vanban.org

Bản án 14/2023/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/05/2023 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa Bản án số 09/2022/LĐ-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đã thanh toán đủ số tiền 100.000.000 đồng cho bà Huỳnh Thị Thanh T. Các bên chấm dứt mọi tranh chấp liên quan đến Hợp đồng lao động số 214… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ"
  • Tòa quyết gì? Sửa Bản án số 09/2022/LĐ-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 168 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/LĐ-PT
Ngày 23-5-2023
V/v tranh chấp về trường hợp
bị đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Công Lực;

Ông Nguyễn Đắc Cường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 03/2023/TLPT-LĐ ngày 22/02/2023 về việc “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 09/2022/LĐ-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2023/QĐ-PT ngày 17/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 07/2023/QĐ-PT ngày 14/4/2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2023/QĐ-PT ngày 09/5/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1991; địa chỉ: số A (46/3), tổ C, khu phố I, đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Hữu N, sinh năm 1996; địa chỉ thường trú: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; địa chỉ liên hệ: số C, đường số A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 21/6/2022); có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ; địa chỉ: số D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

- Ông Trần Trí L, sinh năm 1988 - Trưởng phòng Hành chính nhân sự Công ty TNHH Đ; địa chỉ: số D đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 22/3/2023); có mặt.

- Ông Trần Đăng M, sinh năm 1979; địa chỉ liên lạc: số H, đường N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 18/4/2023); có mặt.

3. Người kháng cáo: bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

4. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Hữu N trình bày: bà Huỳnh Thị Thanh T làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ (gọi tắt là Công ty TNHH Đ hoặc Công ty) từ tháng 10/2018. Ngày 17 tháng 11 năm 2020, bà T và Công ty ký Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3, loại hợp đồng không xác định thời hạn, với chức vụ: nhân viên, bộ phận: nhân sự, mức lương: 8.500.000 đồng/tháng và được hưởng các chế độ khác. Ngày 01/6/2021, bà T và Công ty ký Phụ lục hợp đồng số 2140/PLHĐ2021, nội dung điều chỉnh mức lương từ 8.500.000 đồng thành mức lương 9.500.000 đồng. Do dịch bệnh Covid-19 bùng phát nên từ cuối tháng 6/2021 đến ngày 15/8/2021, bà T đã làm việc 03 tại chỗ tại Công ty. Đến ngày 16/8/2021, bà T nhận được Công văn số 02/08-2021/CV-ĐL của Công ty thông báo tạm ngưng hoạt động sản xuất – kinh doanh, khi nào Công ty hoạt động trở lại thì sẽ gọi cho bà T quay trở lại làm viêc. Đến ngày 01/11/2021, Công ty chính thức đã trở lại làm việc bình thường, bà T liên hệ với Công ty và được Trưởng phòng nhân sự thông báo phải chờ đến khi nào có việc thì Công ty sẽ thông báo cho bà quay lại làm việc. Tuy nhiên, đến nay bà T vẫn chưa được Công ty gọi lại làm việc và Công ty đã trả sổ bảo hiểm cho bà T. Ngày 21/5/2022, bà T nộp đơn yêu cầu hòa giải đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T để giải quyết việc Công ty tự ý cho bà T nghỉ việc không có lý do. Ngày 26/5/2022, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tại Biên bản hòa giải, Công ty cho rằng việc không mời bà T trở lại làm việc là do tình hình sản xuất kinh doanh vào thời điểm từ tháng 11/2021 đến nay gặp khó khăn, Công ty đồng ý mời bà T trở lại làm việc từ ngày 01/6/2022 nhưng không đồng ý trả các khoản trong thời gian bà T không được làm việc nên bà T không muốn tiếp tục làm việc tại Công ty và đã nộp đơn xin nghỉ việc cho Công ty ngay trong buổi hòa giải. Tuy bà T đã nộp đơn xin nghỉ việc nhưng Công ty không có quyết định nào cho bà T thôi việc và cũng không giải quyết các quyền lợi cho bà T. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:

- Buộc Công ty phải trả 02 tháng tiền lương do Công ty chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật: 9.500.000 đồng x 2 tháng = 19.000.000 đồng;

- Buộc Công ty phải trả lương cho người lao động những ngày không được làm việc, thời gian tính từ ngày 01/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/12/2022 là 13 tháng 14 ngày, với mức lương cụ thể: 9.500.000 đồng x 13 tháng 14 ngày = 127.933.000 đồng;

- Buộc Công ty chi trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/11/2021 đến ngày 15/12/2022 là 13 tháng 14 ngày, cụ thể 9.500.000 đồng x 21,5% x 13 tháng 14 ngày = 27.505.667 đồng.

Tổng cộng các khoản là 174.439.035 đồng.

Ngoài ra, đại diện nguyên đơn yêu cầu chấm dứt Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3, ngày 17 tháng 11 năm 2020 và Phụ lục hợp đồng số 2140/PLHĐ2021, ngày 01/6/2021. Tuy nhiên, không yêu cầu Công ty bồi thường thêm 02 tháng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Bộ luật Lao động năm 2019 vì bà T đã có đơn xin nghỉ việc.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Trần Trí L trình bày: thống nhất lời trình bày của người lao động về thời gian giao kết hợp đồng, mức lương các bên đã ký kết. Tuy nhiên, vì tình hình dịch Covid-19 nên ngày 15/8/2021 Công ty có họp người lao động để thông báo việc ai muốn về nhà thì về, ai muốn ở lại Công ty làm việc thì tiếp tục 3 tại chỗ, bà T là một trong số công nhân đã về nhà. Sau đó, vì ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh, việc sản xuất kinh doanh của Công ty G, Công ty phải thu hẹp sản xuất nên đã không gọi công nhân trở lại làm việc, trong đó có bà T. Đến thời điểm hiện nay Công ty vẫn chưa có quyết định nào cho bà T thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động với bà T, đây là lỗi của Công ty. Tuy nhiên, hiện nay Công ty cũng rất khó khăn, hiệu quả doanh thu thấp nên Công ty chỉ hỗ trợ cho bà T số tiền 30.000.000 đồng. Theo Công ty được biết bà T cũng đã có việc làm ổn định ở nơi khác. Đối với việc đóng bảo hiểm xã hội cho bà T thì Công ty đã đóng đến tháng 10/2021 và đã chốt sổ bảo hiểm xã hội vào ngày 22/9/2022.

Tại Bản án số 09/2022/LĐ-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T đối với bị đơn Công ty TNHH Đ về việc “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

2. Chấm dứt Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17 tháng 11 năm 2020 và Phụ lục hợp đồng số 2140/PLHĐ2021 ngày 01/6/2021 giữa bà Huỳnh Thị Thanh T và Công ty TNHH Đ.

3. Buộc Công ty TNHH Đ phải trả cho bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền 174.439.035 đồng, trong đó gồm: 02 tháng tiền lương x 9.500.000 đồng/tháng = 19.000.000 đồng; tiền lương trong những ngày không được làm việc từ tháng 01/11/2021 đến ngày 15/12/2022 (thời điểm xét xử sơ thẩm) là 13 tháng 14 ngày x 9.500.000 đồng/tháng = 127.933.000 đồng; tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/11/2021 đến ngày 15/12/2022 (thời điểm xét xử sơ thẩm) là 13 tháng 14 ngày x 9.500.000 đồng/tháng x 21,5%/tháng = 27.505.667 đồng;

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu Công ty TNHH Đ bồi thường thêm 02 tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng lao động.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 27/12/2022, bị đơn Công ty TNHH Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 29/12/2022, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-LĐ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về bồi thường thời gian không được làm việc theo hợp đồng lao động tính từ ngày 01/11/2021 đến ngày 26/5/2022.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau: bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn các khoản tiền bồi thường liên quan đến Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020 với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để giải quyết toàn bộ tranh chấp có liên quan; nguyên đơn đồng ý với số tiền nêu trên và cam đoan sẽ không khiếu nại, tranh chấp thêm bất kỳ một vấn đề nào khác liên quan đến Hợp đồng lao động nêu trên; bị đơn không phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn trong thời gian nguyên đơn không được làm việc tại Công ty; bị đơn đồng ý chịu toàn bộ tiền án phí lao động sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo nội dung đã thỏa thuận và chịu án phí lao động phúc thẩm. Bị đơn đã thanh toán xong cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng. Các đương sự đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: do các đương sự đã tự thỏa thuận được việc giải quyết vụ án nên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương rút Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-LĐ ngày 29/12/2022 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” và bị đơn Công ty TNHH Đ có trụ sở tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét đơn kháng cáo của Công ty TNHH Đ và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thực hiện trong thời hạn luật định và người kháng cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

Về quan hệ lao động: Xét tài liệu, chứng cứ và lời thừa nhận của các bên đương sự có cơ sở xác định bà T và Công ty TNHH Đ có quan hệ hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020, công việc là nhân viên bộ phận nhân sự, mức lương trong hợp đồng là 8.500.000 đồng; từ 01/6/2021 mức lương chung là 9.500.000 đồng/tháng.

Về nội dung: nhận thấy, tại biên bản hòa giải thành ngày 23 tháng 5 năm 2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, giữa nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn với người đại diện hợp pháp của bị đơn thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:

- Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đồng ý thanh toán cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T các khoản tiền bồi thường liên quan đến Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020 với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T đồng ý nhận số tiền nêu trên để chấm dứt mọi tranh chấp liên quan đến Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020 với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và cam đoan sẽ không khiếu nại, tranh chấp thêm bất kỳ vấn đề nào khác đối với hợp đồng lao động nêu trên. Bị đơn đã thanh toán số tiền 100.000.000 đồng và nguyên đơn đã nhận đủ số tiền này.

- Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ không phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T liên quan đến Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020 trong thời gian bà T không được làm việc tại Công ty.

- Về án phí lao động sơ thẩm: bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đồng ý chịu toàn bộ tiền án phí lao động sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T theo nội dung đã thỏa thuận.

- Về án phí lao động phúc thẩm: bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ chịu án phí lao động phúc thẩm.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tình tiết mới, thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và sự thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử sửa bản án lao động sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, nhận thấy: tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương rút Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-LĐ ngày 29/12/2022 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí lao động phúc thẩm: bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ phải chịu án phí lao động phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 32, 35, 39, 92, 147, 148, 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 39, 41, 42, 46, 47 và 168 của Bộ luật Lao động năm 2019; các Điều 18, 19, 21 và 22 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Tuyên xử:

1. Sửa Bản án số 09/2022/LĐ-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

1.1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đã thanh toán đủ số tiền 100.000.000 đồng cho bà Huỳnh Thị Thanh T. Các bên chấm dứt mọi tranh chấp liên quan đến Hợp đồng lao động số 2140/HĐLĐ/L3 ngày 17/11/2020 giữa Công ty TNHH Đ với bà Huỳnh Thị Thanh T.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ không phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội cho bà Huỳnh Thị Thanh T trong thời gian bà T không được làm việc tại Công ty.

1.2. Về án phí lao động sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Bà Huỳnh Thị Thanh T được miễn án phí lao động sơ thẩm.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-LĐ ngày 29/12/2022 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí lao động phúc thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/003861 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ