- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp về mua bán hàng hoá giữa Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D với Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường L"
- Tòa quyết gì? C¨n cø §iÒu 24, §iÒu 50, §iÒu 306 vµ §iÒu 319 LuËt th ¬ng m¹i; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết …
- Căn cứ chính? Điều 306 Luật thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY T PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/KDTM-ST Ngày: 30 / 05 / 2023 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, T PHỐ HÀ NỘI
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lưu Văn Thiệm
2/ Bà Bùi Thị Minh Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, T phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 86/2022/TLST - KDTM ngày 04/11/2022 về “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐST - XX ngày 25/04/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2023/QĐHPT-ST ngày 12/05/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D
Địa chỉ: Khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ T, xã T, huyện Gia Lâm, T phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung D, Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy K, Phó tổng giám đốc. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường L
Địa chỉ theo đăng ký kinh doanh : Số 88 ngõ 203 đường H, phường N, quận Cầu Giấy, T phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phúc T, Tổng giám đốc. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Đại diện nguyên đơn, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D trình bày:
Theo các Hợp đồng nguyên tắc số 10/HĐNT/MTTL-PGDM2020 ngày 22/10/2020, Hợp đồng mua bán xăng dầu số 14/APP-MTTL HĐKT ngày 31/12/2020, Hợp đồng cho mượn tài sản số 27/2021HĐKT-APP-MTTL ngày 15/01/2021 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số 88/2021HĐMB/TL-APP ngày 12/10/2021, Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D (gọi tắt là Công ty APP) là bên cung cấp các sản phẩm xăng, dầu mỡ nhờn và bồn chứa bơm xăng cho Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L (gọi tắt là Công ty môi trường L). Theo quy định chung, bên bán cung cấp sản phẩm theo yêu cầu của bên mua và việc thanh toán tiền hàng phải được bên mua thực hiện hàng tháng. Nhưng Công ty Môi Trường L đã không thanh toán tiền mua hàng theo quy định.
Từ 09/12/2020 đến ngày 13/12/2021, Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L đã nhận số hàng với tổng giá trị 3.421.138.160 đồng và mới thanh toán được 2.496.190.720 đồng. Tính đến ngày 13/12/2021, tổng số tiền Công ty Môi Trường L còn nợ Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D tổng số tiền hàng là: 964.947.440 đồng.
Sau nhiều lần Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D có văn bản nhắc nhở và cử người sang làm việc trực tiếp, Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L chỉ hứa hẹn sẽ thanh toán và thanh toán được thêm 50.000.000 đồng trong tháng 7 và 8/2022.
Ngày 21/9/2022, Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D đã có Đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải thanh toán khoản tiền hàng là 914.947.440 đồng và khoản tiền chậm trả theo mức lãi suất vay ngân hàng 6.5%/năm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa buộc Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải trả cho Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D tổng cộng là 1.017.453.517 đồng, gồm tiền hàng còn thiếu là 914.947.440 đồng và tiền lãi chậm trả từ ngày 13/12/2021 đến ngày 30/05/2023 theo mức lãi suất vay ngân hàng là 102.506.077 đồng. Cụ thể tiền lãi từng giai đoạn như sau:
- Tính từ ngày 13/12/2021 đến 16/07/2022 (215 ngày) là: 6.5%/năm x 215 ngày x 964.947.440 đồng = 36.945.590 đồng
- Từ ngày 17/07 đến 01/08/2022 (16 ngày) là: 6,5%/năm x 16 ngày x 934. 947.440 đồng = 2.663.960 đồng
- Từ ngày 02/08/2022 đến 31/08/2022 (30 ngày) là: 6,5%/năm x 30 ngày x 924.947.440 đồng = 4.941.500 đồng
- Từ ngày 01/09/2022 đến 30/05/2023 (272 ngày) là: 8,5%/năm x 272 ngày x 914.947.440 đồng = 57.955.027 đồng
Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải tiếp tục chịu lãi chậm trả từ ngày 29/08/2022 đến khi có các quyết định chính thức của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án.
Sau khi thụ lý vụ án, Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L đã nhận được Thông báo thụ lý và Giấy triệu tập của Tòa án, nhưng không có mặt theo lệnh triệu tập. Đến tháng 03/2023, bị đơn không còn hoạt động tại trụ sở theo đăng ký kinh doanh và không để lại địa chỉ liên lạc, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Nhưng đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn vắng mặt trong các buổi làm việc và phiên tòa.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy:
Về phần thủ tục: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, qua phần trình bày của đương sự tại phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhận thấy về thủ tục tố tụng, Toà án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đảm bảo nguyên tắc xét xử, sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đúng quy định.Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi chậm trả theo yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ngày 21/9/2022, Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D đã có Đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L có trụ sở tại số 88 ngõ 203 đường H, phường N, quận Cầu Giấy phải thanh toán tiền hàng theo các Hợp đồng mua bán xăng dầu và các sản phẩm dầu nhờn. Vì vậy đây là tranh chấp hợp đồng mua bán theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Sau khi được tống đạt các văn bản tố tụng, như Thông báo thụ lý và các giấy triện tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L đã chuyển khỏi trụ sở hoạt động mà không để lại địa chỉ liên lạc. Nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của bị đơn tiếp tục vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Các Hợp đồng nguyên tắc số 10/HĐNT/MTTL-PGDM2020 ngày 22/10/2020, Hợp đồng mua bán xăng dầu số 14/APP-MTTL HĐKT ngày 31/12/2020, Hợp đồng cho mượn tài sản số 27/2021HĐKT-APP-MTTL ngày 15/01/2021 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số 88/2021HĐMB/TL-APP ngày 12/10/2021 được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D và Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L. Nội dung thỏa thuận của Hợp đồng đúng theo ngành nghề đăng ký kinh doanh và không trái quy định của pháp luật, nên đã phát sinh hiệu lực. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên bán hàng đã thực hiện đúng theo quy định, nhưng bên mua là Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền hàng còn lại theo đúng quy định của hợp đồng, dẫn đến việc Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét yêu cầu đòi nợ gốc của Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D là đúng nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như Hóa đơn VAT, sao kê tài khoản của bên bán… nên cần chấp nhận và buộc bị đơn phải thanh toán ngay toàn bộ khoản nợ gốc là 914.947.440 đồng cho nguyên đơn.
Đối với yêu cầu thanh toán lãi chậm trả, các bên không thỏa thuận việc phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng, nhưng căn cứ Điều 306 Luật thương mại, thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn chỉ đề nghị Tòa án chỉ áp dụng mức lãi suất vay trung hạn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam với mức 6,5%/năm và 8,5%/năm, kể từ ngày 13/12/2021 đến ngày xét xử, tổng cộng là 102.506.077 đồng. Xét thấy, yêu cầu tính lãi chậm trả là thấp hơn mức quy định của pháp luật và là quyền lợi chính đáng của đương sự, nên cần chấp nhận. Buộc bị đơn phải thanh toán lãi chậm trả của khoản tiền hàng chưa thanh toán tính đến ngày xét xử là 102.506.077 đồng.
Như vậy, Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D, tổng cộng là 1.017.453.517 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định là 36.000.000 đồng + [(1.017.453.517 đồng – 800.000.000 đồng) x 3%] = 42.523.600 đồng.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C¨n cø §iÒu 24, §iÒu 50, §iÒu 306 vµ §iÒu 319 LuËt th ¬ng m¹i; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền của Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D đối với Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L theo Hợp đồng nguyên tắc số 10/HĐNT/MTTL-PGDM2020 ngày 22/10/2020, Hợp đồng mua bán xăng dầu số 14/APP-MTTL HĐKT ngày 31/12/2020, Hợp đồng cho mượn tài sản số 27/2021HĐKT-APP-MTTL ngày 15/01/2021 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số 88/2021HĐMB/TL-APP ngày 12/10/2021.
2. Buộc Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D các khoản sau:
- Khoản tiền hàng còn thiếu là 914.947.440 đồng.
- Khoản tiền phạt chậm trả tính đến ngày 26/11/2019 là 102.506.077 đồng.
Tổng cộng là 1.017.453.517 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn năm trăm mười bảy đồng)
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với trường hợp cơ quan thi hành án có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 42.523.600 đồng.
Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 20.538.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy (Biên lai thu số 18816 ngày 19/10/2022).
¸n xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị đơn.
Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Môi Trường L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự ; - VKSND quận Cầu Giấy + HN ; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy ; - Tòa án NDTP Hà Nội ; - Lưu : VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Vân |