vanban.org

Bản án 14/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Ngô Văn P 01 chiếc điện thoại di động Oppo A71 màu đen, đã qua sử dụng, số imei 1: 868837037019235, số imei 2: 868837037019227, điện thoại chứa sim số 1 là 0936882972, sim số 2 là 0966066771. (Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô văn P - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2023/HSST
Ngày: 30-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lĩnh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bá Soa.

Ông Nguyễn Thức Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa – Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - kiểm sát viên.

Trong ngày 30/5/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/HSST ngày 19/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn P, tên gọi khác: Ngô Văn C; Sinh ngày 04 tháng 7 năm 1970 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị K (đã chết); Anh chị em ruột: có 4 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị Chiều, sinh năm 1973 (đã ly hôn), Con: 01 con, sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 18/5/1989, bị TAND thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Ngày 26/12/1989, bị TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- 1 -

- Ngày 27/02/1992, bị TAND tối cao xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Ngày 23/5/1994, bị TAND thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Ngày 29/7/1996, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Ngày 28/11/2000, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Ngày 07/11/2006, bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 29/9/2016, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 08/9/2017, bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng 26 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 03/4/2018, bị TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 19/8/2020, bị TAND huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 4 năm 2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khối Vĩnh Tân, phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/4/2023, Ngô Văn P biết thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tổ chức Lễ hội khai trương du lịch biển nên đón xe khách từ thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi vào thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm người sơ hở để trộm tài sản. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, P đi đến khu vực Quảng trường Bình Minh, thị xã Cửa Lò, lúc này có nhiều người đến xem buổi lễ. P đã trà trộn vào đám đông ở khu vực cổng chính Quảng trường Bình Minh để tìm có ai sơ hở để lấy trộm tài sản. Một lúc sau, P phát hiện một người phu nữ (sau này xác định là chị Nguyễn Thị H) trên vai đeo một chiếc túi xách màu đen không đóng khóa, P lại gần áp sát thò tay vào lấy trộm được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus.

- 2 -

Sauk hi lấy trộm được P thao tác bật chế độ máy bay tránh bị phát hiện rồi giấu vào túi quần đang mặc và đi đến khu vực khác. Đến 22 giờ 05 phút, ngày 14/4/2023, Ngô Văn P đến Công an thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đầu thú.

Tại Kết luận giám định số 15/HĐĐG ngày 19/4/2023 của của UBND thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen, số imei: 359151072372475 có giá trị 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-CL ngày 18/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo Ngô Văn P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện VKSND thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Ngô Văn P mức án từ 12-15 tháng tù.

Về dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị Hạnh đã được trả lại chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về vật chứng vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Ngô Văn P: 01 chiếc điện thoại di động Oppo A71 màu đen, đã qua sử dụng, số imei 1: 868837037019235, số imei 2: 868837037019227, điện thoại chứa sim số 1 là 0936882972, sim số 2 là 0966066771.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì về quan điểm của đại điện Viện kiểm sát thị xã Cửa Lò và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cửa Lò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

- 3 -

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Ngô Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, với vật chứng thu giữ được nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 20 giờ, ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại khu vực cổng chính Quảng trường Bình Minh, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Ngô Văn P đã có hành vi lấy trộm của chị Nguyễn Thị Hạnh 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus trị giá 2.500.000 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy đối với bị cáo cần phải xét xử nghiêm

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhưng nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về tội “trộm cắp tài sản”. Cụ thể: Ngày 18/5/1989, bị TAND thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 26/12/1989, bị TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 27/02/1992, bị TAND tối cao xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 23/5/1994, bị TAND thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 29/7/1996, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 28/11/2000, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 07/11/2006, bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 29/9/2016, bị TAND tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 08/9/2017, bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng 26 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 03/4/2018, bị TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 19/8/2020, bị TAND huyện Hiệp Hoà,

- 4 -

tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện đầu thú nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất vụ án; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tài sản tại địa phương, bị cáo Ngô Văn P không có công việc ổn định, không có tài sản có giá trị do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị Hạnh đã được trả lại chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Oppo A71 màu đen, đã qua sử dụng, số imei 1: 868837037019235, số imei 2: 868837037019227, điện thoại chứa sim số 1 là 0936882972, sim số 2 là 0966066771. Đây là tài sản cá nhân của Ngô Văn P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn P 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 14/4/2023).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Ngô Văn P 01 chiếc điện thoại di động Oppo A71 màu đen, đã qua sử dụng, số imei 1: 868837037019235, số imei 2: 868837037019227, điện thoại chứa sim số 1 là 0936882972, sim số 2 là 0966066771.

(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2023).

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Buộc bị cáo Ngô Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- 5 -

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ