vanban.org

Bản án 14/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy. Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ lu t Hình sự: Xử phạt bị cáo LÒ Minh Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 26/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn C+ ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2023/HSST
Ngày 14-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp và ông Lò Văn Quốc.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Dũng- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST-HS, ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/HSST- QĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Quàng Văn C, tên gọi khác: Không; sinh năm 1997, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Hình, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn Doan, sinh năm 1979 và bà Lò Thị Kiên, sinh năm 1981; bị cáo có vợ là Lò Thị Toan, sinh năm 1999 và 01 con, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm gi , tạm giam ngày 26 tháng 7 năm 2023. Có mặt.

2. LÒ Minh Đ, tên gọi khác: Không; sinh năm 1998, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Mảy, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Chung ( đã chết) và bà Lường Thị Ngân, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Tại bản án số 191/2021/HSST ngày 27-12-2021 bị Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng tr trái phép chất ma túy; tiền sự: không; bị bắt, tạm gi , tạm giam ngày 26 tháng 7 năm 2023. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 05 phút ngày 26/7/2023, Tổ công tác Công an xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Mảy, xã CP, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn C, LÒ Minh Đ có hành vi cất gi trái phép chất ma túy.

V t ch ng thu gi : 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có ch a 02 (hai) gói nilon màu trắng, gói nilon màu trắng th nhất bên trong có ch a 07 (bảy) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ khai là ma túy tổng hợp), gói nilon màu trắng th hai bên trong có ch a bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ khai là Heroine).

Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 26/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy m u giám định, kết quả: 07 (bảy) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, có khối lượng 0,68 gam. Trích 03 (ba) viên nén màu hồng có khối lượng 0,29 gam, ký hiệu C1 gửi giám định. Còn lại 04 (bốn) viên nén màu hồng, có khối lượng 0,39 gam, ký hiệu C2; số bột cục màu trắng nghi là Heroine, có khối lượng 0,52 gam. Trích 0,20 gam, ký hiệu C3 gửi giám định, còn lại 0,32 gam ký hiệu C4.

Kết lu n giám định số: 1837/KL- KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: M u gửi giám định ký hiệu C1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của m u gửi giám định là 0,29 gam. M u gửi giám định ký hiệu C3 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu gi là 0,68 gam, loại Methamphetamine và 0,52 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút, ngày 26/7/2023, Quàng Văn C đi bộ một mình từ ở bản Hình, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La xuống nhà LÒ Minh Đ ở bản Mảy, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La chơi. C đến nhà Đ, thấy Đ ở nhà một mình, gặp nhau C rủ Đ góp tiền đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, Đ đồng ý và cả hai người cùng thống nhất góp mỗi người 500.000 đồng, sau đó Đ đưa cho C số tiền 500.000 đồng, C bỏ ra 500.000 đồng, tổng cộng được 1.000.000 đồng. Sau đó C và Đ cùng đi bộ đi tìm mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Khi C và Đ đi đến khu vực dốc bản Nôm Đon (nay là dốc bản Mảy), xã CP, huyện TC thì gặp một người đàn ông dân tộc thái (C và Đ không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu), C hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc thái đó một gói ma túy gói b ng nilon màu trắng bên trong có hai gói nilon màu trắng, gói nilon màu trắng th nhất bên trong có ch a 07 (bảy) viên nén màu hồng là ma túy tổng, gói nilon màu trắng th hai bên trong có ch a bột cục màu trắng là Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần đ ng trước bên phải đang mặc, rồi cùng Đ đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi C và Đ đang đi tìm chỗ sử dụng ma túy tại khu vực bản Mảy, xã CP, huyện Thu n Châu thì bị tổ công tác Công an xã CP, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu gi cùng v t ch ng.

Tại Cáo trạng số: 190/CT- VKSTC, ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ về tội Tàng tr trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Tàng tr trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC gi quyền công tố tại phiên toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ lu t Hình sự: Xử phạt bị cáo LÒ Minh Đ từ 26 (hai mươi sáu) tháng tù đến 32 (ba mươi hai) tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ lu t Hình sự: Xử phạt bị Quàng Văn C từ 26 (hai mươi sáu) tháng tù đến 32 (ba mươi hai) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu; 04 (bốn) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 0,39 gam, ký hiệu C2; 0,32 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu C4.

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ.

Tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ khai nh n ngày 26/7/2023, C rủ Đ góp tiền để đi mua ma túy với mục đ ch để cùng nhau sử dụng, Quàng Văn C góp 500.000 đồng, LÒ Minh Đ góp 500.000 đồng, tổng cộng 1.000.000 đồng. Quàng Văn C là người trực tiếp trao đổi mua ma tuý. Sau khi mua được ma túy C và Đ đang đi tìm chỗ sử dụng ma túy tại khu vực bản Mảy, xã CP, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện, bắt quả tang khi C đang cất gi trái phép 1,20 gam chất ma túy (0,52 gam Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,68 gam Methamphetamine) ở trong người.

Tại phiên tòa các bị cáo gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai nh n tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 26/7/2023; Biên bản niêm phong v t ch ng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nh n đối tượng giám định; Kết lu n giám định số 1837/KL- KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người ch ng kiến.

Từ các căn c nêu trên đã có đủ cơ sở kết lu n hành vi rủ nhau đi mua ma túy với mục đ ch để cùng nhau sử dụng của các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ, khi bị cáo Quàng Văn C đang cất gi trái phép 1,20 gam chất ma túy (0,52 gam Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,68 gam Methamphetamine) trong người thì bị phát hiện bắt quả tang, hành vi của các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ đã phạm vào tội Tàng tr trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.

Bị cáo Quàng Văn C là người rủ rê, khởi xướng, trực tiếp trao đổi mua bán ma túy, góp số tiền 500.000 đồng, bị cáo LÒ Minh Đ, góp số tiền 500.000 đồng, cùng thống nhất ý ch , cùng tham gia đi mua ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ phạm tội với vai trò đồng phạm, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ lu t hình sự để xem xét vai trò của các bi cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có m c hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Quàng Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Bị cáo LÒ Minh Đ: Tại bản án số 191/2021/HSST ngày 27-12-2021 bị Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng tr trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo LÒ Minh Đ thuộc trường hợp "tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Quàng Văn C không có tiền án, tiền sự. Bị cáo LÒ Minh Đ có một tiền án chưa được xóa án t ch.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu gi : Các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Mảy, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 26/7/2023. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn ch ng c nào khác ch ng minh. Do đó, buộc các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu gi .

V t ch ng vụ án: Đối với 0,32 gam Heroine, ký hiệu C4+ 04 viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 0,39 gam, ký hiệu C2 là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm tàng tr , cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự. Đối với 03 (ba) mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, v t không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Về án ph : Bị cáo LÒ Minh Đ thuộc diện hộ c n nghèo, các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ lu t Hình sự: Xử phạt bị cáo LÒ Minh Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 26/7/2023.

Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ lu t Hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn C 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 26/7/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ.

2. Về v t ch ng vụ án: Căn c điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ Quàng Văn C cùng đồng phạm- TTTPCMT, bắt ngày 26/7/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 062698, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ ch ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC. Bên trong có: 03 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu+ 0,32 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu C4+ 04 viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine, có khối lượng 0,39 gam , ký hiệu C2.

(Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 12/10/2023 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

3. Về án ph : Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án:

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ.

4. Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Các bị cáo Quàng Văn C, LÒ Minh Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ