- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS-ST Ngày: 07/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
2. Ông Nguyễn Thanh Tuấn
-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 09/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 22/02/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1972 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số 31C, khu phố S, phường K, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 2/12; nghề nghiệp: phụ hồ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, đã chết và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1942; Vợ: Lê Thị Hồng H, sinh năm 1972; con: có 01 người con sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Lê Văn Ng, sinh năm 1965; nơi cư trú: số 553C, khu phố B, phường K, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết từ trước và biết chỗ anh Lê Văn Ng (là bảo vệ trường Tiểu học Mỹ Thạnh An) cất bóp đựng tiền trong phòng bảo vệ của trường học nên khoảng 11 giờ ngày 21/9/2022, Nguyễn Thanh Ph điều khiển xe đạp từ nhà tại khu phố S, phường K, thành phố Bến Tre đến trường Tiểu học Mỹ Thạnh An thuộc ấp Mỹ An C, xã Mỹ Thạnh An để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, thấy cổng trường đang khóa, Ph dựng xe đạp sát tường rào rồi leo rào vào bên trong dùng gạch phá ổ khóa cửa phòng bảo vệ, đột nhập vào trong phòng, mở cánh cửa bên trái tủ gỗ lấy bóp tiền của anh Ng bên trong có 4.730.000 đồng rồi leo rào trở ra bên ngoài để bóp tiền vừa trộm được vào rổ xe đạp và điều khiển xe chạy về phía cầu Bến Tre. Tại đây Ph mở bóp lấy tiền, giấy tờ bỏ vào túi quần cất giấu và ném cái bóp xuống sông. Sau đó hành vi của Phong bị phát hiện.
Vật chứng thu giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 235048; 01 thẻ tài khoản khách hàng của ngân hàng BIDV tên Lê Văn Ng; 01 thẻ căn cước công dân tên Lê Văn Ng; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Lê Văn Ng; 01 thẻ nhân viên bảo vệ tên Lê Văn Ng; 01 thẻ thành viên của hệ thống Honda Cẩm Giang; Tiền Việt Nam 1.500.000 đồng (Do Nguyễn Thanh Ph giao nộp để bồi thường cho bị hại).
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 804/KL-HĐĐG ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 cái bóp, chất liệu da tổng hợp giả da cá sấu, màu đen, kích thước 22cm x 9cm (định giá hồ sơ) trị giá ngày 21/9/2022 là 69.000 đồng.
Quá trình điều tra: Nguyễn Thanh Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản sự việc, biên bản đối chất, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết quả thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho bị hại Lê Văn Ng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 235048, 01 thẻ tài khoản khách hàng của ngân hàng BIDV tên Lê Văn Ng, 01 thẻ căn cước công dân tên Lê Văn Ng, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Lê Văn Ng, 01 thẻ nhân viên bảo vệ tên Lê Văn Ng, 01 thẻ thành viên của hệ thống Honda Cẩm Giang. Bị hại yêu cầu Nguyễn Thanh Ph bồi thường số tiền 4.730.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường 1.500.000 đồng.
Tại cáo trạng số 18/CT-VKSTPBT ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho bị hại Lê Văn Ng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 235048, 01 thẻ tài khoản khách hàng của ngân hàng BIDV tên Lê Văn Ng, 01 thẻ căn cước công dân tên Lê Văn Ng, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Lê Văn Ng, 01 thẻ nhân viên bảo vệ tên Lê Văn Ng, 01 thẻ thành viên của hệ thống Honda Cẩm Giang. Bị hại Ng yêu cầu Nguyễn Thanh Ph bồi thường số tiền 4.730.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường 1.500.000 đồng nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.230.000 đồng.
+ Đối với xe đạp bị cáo sử dụng để đi trộm cắp tài sản là của bà Lê Thị Hồng H, bà H không biết bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện vụ trộm cắp tài sản như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, đã bồi thường 1.500.000 đồng nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.230.000 đồng, bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại vắng mặt mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp quy định tại các điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 21/9/2022, tại phòng bảo vệ của trưởng Tiểu học Mỹ Thạnh An thuộc ấp Mỹ An C, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh Ph đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Văn Ng 01 bóp da trị giá 69.000 đồng và số tiền 4.730.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Ng là 4.799.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại trị giá 4.799.000 đồng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là không cần thiết, giao bị cáo cho chính quyền địa phương kết hợp cùng với gia đình quản lý cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho bị hại Lê Văn Ng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 235048, 01 thẻ tài khoản khách hàng của ngân hàng BIDV tên Lê Văn Ng, 01 thẻ căn cước công dân tên Lê Văn Ng, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Lê Văn Ng, 01 thẻ nhân viên bảo vệ tên Lê Văn Ng, 01 thẻ thành viên của hệ thống Honda Cẩm Giang. Bị hại Ng yêu cầu Nguyễn Thanh Ph bồi thường số tiền 4.730.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường 1.500.000 đồng nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.230.000 đồng. Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 bóp da trị giá 69.000 đồng.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo là “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Ph 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (ngày 07/3/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh Ph cho Ủy ban Nhân dân phường K, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn Ng số tiền 3.230.000 (ba triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng.
Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền bồi thường nêu trên nếu chưa được thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thanh Ph phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thanh Ph phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND P. K, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo, Bị hại (2b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (4b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |