- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS-ST Ngày: 24-03-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Yên
2. Bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 03 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 24/2/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 10/3/2023 đối với bị cáo:
Ngô Văn C, sinh năm 1989 tại xã Th, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã Th, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ch và con bà Ngô Thị Y; vợ là Triệu Múi M (tên gọi khác Triệu Thị M – đã ly hôn) và có 2 con; Tiền án: Bản án số 38/2018/HS-ST ngày 12/6/2018 của TAND huyện Thanh Hà xử phạt C 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 61/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 của TAND huyện Thanh Hà xử phạt C 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 116/QĐ-XPHC ngày 08/9/2020 của Công an huyện Thanh Hà xử phạt C 1.000.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2020/QĐ-TA ngày 04/9/2020 đối với C, thời hạn 20 tháng. Nhân thân: Bản án số 56/2014/HSST ngày 10/12/2014 của TAND huyện Thanh Hà xử phạt C 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022, chuyển tạm giam ngày 30/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Quang H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/12/2022, Ngô Văn C đi từ nhà đến khu vực thị trấn T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, C mua được 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết, với giá 300.000đ. Khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực đường bê tông thuộc địa phận thị trấn T, huyện Thanh Hà thì bị tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện Thanh Hà phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của C 01 gói giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, C khai nhận là ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Kết luận giám định số 52/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Ngô Văn C gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,183g là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 23/2/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo C khẳng định có nghiện ma tuý, nhất trí cáo trạng truy tố, toàn bộ bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản phạm tội quả tang tại giai đoạn điều tra do bị cáo trực tiếp ký, đều đọc lại trước khi ký. Tuy nhiên, bị cáo không cất giấu ma tuý nhưng tại giai đoạn điều tra bị cáo bị ép cung nên bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Ngoài lời khai của mình, bị cáo không đưa ra được căn cứ chứng minh nào khác; bị cáo không có khiếu nại tố cáo hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bị cáo C từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2022. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy màu bạc và vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 52/KL-KTHS. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo trình bày tại giai đoạn điều tra bị cáo bị ép cung nên bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố. Bản thân bị cáo không cất giấu ma tuý để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận tự viết bản tự khai, đọc và nghe đọc lại biên bản lấy lời khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, chữ ký trong các văn bản này là của bị cáo. Bị cáo đã được nhận Bản kết luận điều tra, Cáo trạng, văn bản tố tụng khác nhưng không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Ngoài lời khai của bị cáo, bị cáo không đưa ra được căn cứ chứng minh nào khác cho lời trình bày của mình. Do đó, lời khai của bị cáo tại phiên toà là không có căn cứ chấp nhận. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vây, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ 40 phút ngày 28/12/2022, ta ̣i đoạn đường bê tông thuộc địa phận thị trấn T, huyện Thanh Hà, Ngô Văn C đang cất giấu trái phép 0,183g là ma túy loại Heroine, mu ̣c đich để sứ
̉ du ̣ng thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy do cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử tội phạm về ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 52/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi địa chỉ cụ thể, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong vật chứng của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bi ̣ cáo C phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
T.m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm N¬i nhËn:
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyÖn Thanh Hà; - Bộ phận HSNV- C«ng an huyÖn Thanh Hà; - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương; - Chi côc THADS huyÖn Thanh Hà; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - BÞ c¸o; - Lưu hå s¬ vô ¸n. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |