vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; Điều 38; điểm c, khoản 1, điều 47; Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn S1 05 (năm) năm tù về tội “Chứa mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Sơn - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51; Điều 38; điểm c, khoản 1, điều 47; Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 14/2023/HS-ST
Ngày 07/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Sửu

2. Ông Trần Văn Thiện

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S1 - sinh năm 1979 Tên gọi khác: Không;

- Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:

Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12;

- Họ và tên cha: Nguyễn Khắc T - sinh năm 1945; Họ và tên mẹ: Nguyễn

Thị L - sinh năm 1952;Vợ: Trần Thị M - sinh năm 1984; Đều cư trú thôn A, xã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012); T án, t sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022, hiện đang tạm giam tại

Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Yên. (có mặt tại phiên tòa)

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Nông Thị H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm K, xã Y , huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

3. Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam

4. Chị Đặng Thị Hồng V, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: số 7, K22, ngõ 63, T, N, phường T, quận Hoàng Mai, thành phố

Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau. Khoảng 19 giờ ngày 17/11/2022, Nguyễn Văn S1 là chủ hộ kinh doanh và trực tiếp quản lý Nhà nghỉ Mộng Mơ (địa chỉ kinh doanh tại thôn A, xã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) đang ở nhà thì có Vũ Xuân Th và Nguyễn Tiến T cùng đến nhà nghỉ Mộng Mơ. Lúc này, tại nhà S1 đang có Nông Thị H đang ở đó chơi, (H là gái bán dâm). Th nhìn thấy H biết là gái bán dâm nên Th nói với S1 “Tôi làm xa nhà, ông xem có đứa nào giới thiệu cho tôi cho tôi một đứa”, S1 đồng ý và hướng về phía H và nói với Th “Em này giá bốn trăm”. Thấy S1 nói vậy, Th đồng ý đưa cho S1 500.000 đồng để trả t mua dâm, thừa thiếu sẽ thanh toán sau. T thấy Th mua dâm nên T cũng bảo S1 “Anh gọi cho em thêm một em” S1 đồng ý và nói lại với T “Em này cứng tuổi hơn, giá ba trăm rưỡi”. T đồng ý. S1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, gắn sim số 0325.657.013 gọi vào số điện thoại 0363.722.938 của Đặng Thị Hồng V - sinh năm 1972, trú tại Số 7, K22, Ngõ 63 T N, phường T, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bảo V “Em lên nhà anh có khách” (ý bảo V lên nhà nghỉ của S1 bán dâm cho khách) được Vâ đồng ý. Lúc này, Th đưa cho S1 số t 500.000 đồng để trả tiền mua dâm, thừa thiếu sẽ thanh toán sau. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày V đến nhà nghỉ Mộng Mơ thì S1 chỉ cho T và V vào phòng Vip 102; còn Th và H vào phòng Vip 01 để thực hiện hành vi mua bán dâm với nhau. Khi T và V; Th và H đang quan hệ tình dục với nhau được khoảng 05 phút thì lực lượng Công an huyện đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang S1 đang có hành vi chứa 2 đôi nam nữ mua bán dâm tại nhà nghỉ do Nguyễn Văn S1 quản lý. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

- Số tiền 1.000.000 đồng gồm 02 tờ tờ Polime mệnh giá 500.000 đồng, thu

giữ tại túi quần sau bên phải của chiếc quần bò mặc ngoài của Nguyễn Văn S1 mặc khi bị bắt.

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ, có số imei 1

860429049674435, IMEI 2 860429049674427, điện thoại gắn sim số 0973184574 và 0325657013, điện thoại đã cũ, qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn S1.

- 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh, đã bị xé rách ở sàn nhà

Phòng Vip 102 nhà nghỉ Mộng Mơ và 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng trên giường nghỉ Phòng Vip 102 nhà nghỉ Mộng Mơ.

- 01 chiếc vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh chưa qua sử

dụng, được phát hiện và thu giữ tại mặt trên chiếc kệ gỗ trong phòng nghỉ VIP 01 nhà nghỉ Mộng Mơ.

- 01 chiếc điện thoại Samsung J5 Prime màu vàng, có số IMEI 1:

355079080759041, IMEI 2: 355080080759049, điện thoại gắn sim số 0961802329 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A7 màu vàng, có số IMEI 1: 867939048606710, IMEI 2: 867939048606702, gắn sim số 0337971806 do Nông Thị H tự giao nộp.

- 01 chiếc điện thoại Samsung J5 Prime màu vàng, có số IMEI 1:

355079082310587, IMEI 2: 355080082310585, gắn sim số 0363722938 do Đặng Thị Hồng Vân tự giao nộp.

Ngày 17/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên tiến

hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn S1. Kết quả thu giữ: 01 hộp đựng bao cao su có ghi chữ “CONDOM”, bên trong có 08 chiếc bao cao su vỏ màu xanh có chữ “CONDOM” in trên vỏ bao cao su, thu tại ngăn kéo quầy thu ngân của nhà nghỉ Mộng Mơ.

Ngày 30/11/2022, chị Trần Thị M - sinh năm 1984 (ở cùng địa chỉ với S1

- là vợ của S1) tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 20-C-8-002821) mang tên Nguyễn Văn S1 (bản sao có chứng thực); 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú nhà nghỉ Mộng Mơi (gồm 03 tờ giấy A4 - bản phô tô); 01 đĩa DVD-R màu vàng có chữ Maxell được trích xuất từ camera giám sát an ninh của gia đình ghi lại diễn biến sự việc ngày 17/11/2022.

Tại Kết luận giám định số 2299/KL-KTHS ngày 15/12/2022 Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định. Trích xuất được 16 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn S1 khai nhận kinh doanh nhà nghỉ Mộng

Mơ từ tháng 6/2020. Trong quá trình kinh doanh nhà nghỉ thì V và H đến trao đổi với S1 nếu có khách đến nghỉ có nhu cầu mua dâm thì gọi cho V và H. S1 có thoả thuận với V và H nếu có khách thì S1 sẽ thu tiền của khách và trả cho V và H mỗi người 200.000 đồng đến 250.000 đồng/lần bán dâm, còn lại S1 sẽ được hưởng. Trong ngày 17/11/2022, S1 thỏa thuận với T và H số tiền mua dâm là 750.000 đồng, S1 sẽ trả cho H 250.000 đồng và Vân 200.000 đồng, còn lại số tiền 300.000 đồng thì S1 sẽ được hưởng lợi.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn S1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình.

Tại cáo trạng số 10/CT-VKS, ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Tân Yên đã truy tố Nguyễn Văn S1 về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c, khoản 2, điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng điểm c, khoản 2, khoản 5, điều 327, điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn S1 từ 5 năm đến 05 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 18/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo S1 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp

ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự: điểm a,

khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000.000đ (một triệu đồng) Trong đó

750.000đ t T, T mua dâm, 100.000đ t của T và 150.000đ t của T không lấy lại; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ, có số imei 1 860429049674435, IMEI 2 860429049674427 là điện thoại của S1 gọi cho Đặng Thị Hồng V đến bán dâm;

Trả lại cho ĐẶng Thị Hồng V 01 chiếc điện thoại Samsung J5 Prime màu

vàng, có số IMEI 1: 355079082310587, IMEI 2: 355080082310585;

Tịch thu tiêu : 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh, đã bị xé

rách; 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng; 01 chiếc vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh chưa qua sử dụng; 01 hộp đựng bao cao su có ghi chữ “CONDOM”, bên trong có 08 chiếc bao cao su vỏ màu xanh có chữ “CONDOM” in trên vỏ bao cao su.

Ngoài ra còn để nghị xử lý t án phí, quyền kháng cáo theo quy định của

pháp luật:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi “chứa mại dâm

như bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1. ]Về Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an

huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có

lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 292; Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

[2.]Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn S1 đã khai

nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người người liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ có sở kết luận: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 17/11/2022, Nguyễn Văn S1 là chủ nhà nghỉ Mộng Mơ ở thôn A, xã N, huyện Tân Yên thuộc quyền quản lý của mình để thực hiện hành vi làm trung gian dẫn dắt gái bám dâm và d phòng nghỉ Vip 01 cho đối tượng Vũ Xuân T và Nông Thị H, phòng Vip 102 cho Nguyễn Tiến T và Đặng Thị Hồng V thực hiện hành vi mua bán dâm với nhau để thu lời bất chính số tiền 300.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách

nhiệm hình sự nên có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật

tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm đến đạo đức xã hội truyền thống và thuần phong mỹ tục của dân tộc, đến nếp sống lành mạnh văn minh, an toàn xã hội.

Bị cáo nhận thức được hành vi chứa mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng

vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức án nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy

tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố bị cáo là thương binh và được tặng thưởng huân chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy do tính chất nghiêm trọng

của hành vi, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn S1 có hành vi thu lợi bất chính,

có tài sản nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng t đối với bị cáo mức phạt 10.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

[5] Về vật chứng: Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đưa ra

về xử lý vật chứng. Gồm: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 750.000đ (bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền mua bán dâm;100.000đ tiền của T và 150.000đ tiền của T không lấy lại; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ, có số imei 1 860429049674435, IMEI 2 860429049674427 của S1;

Tịch thu tiêu toàn bộ 01 vỏ bao cao su, 01 hộp đựng bao cao su như đã thu

giữ quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Đối với chiếc điện thoại Samsung J5 Prime màu vàng, có số IMEI 1:

355079082310587, IMEI 2: 355080082310585, của Đặng Thị Hồng Vân quan điểm của Viện kiểm sát không tịch thu mà trả cho chị Vân. HĐXX thấy Vân d điện thoại này nhận cuộc gọi của S1 đi bán dâm, đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo S1 nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là đúng.

Đối với hành vi của Vũ Xuân Th, Nguyễn Tiến T, Nông Thị H, Đặng Thị

Hồng V thực hiện hành vi mua, bán dâm với nhau trong ngày 17/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Quyết định chuyển tài liệu có liên quan đến Công an huyện Tân Yên để xử phạt hành chính theo quy định là đúng pháp luật.

[7] Về t án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản

1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo Nguyễn Văn S1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) t án

phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản

án theo luật định;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5, Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều

51; Điều 38; điểm c, khoản 1, điều 47; Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

1. Xử phạt: Nguyễn Văn S1 05 (năm) năm tù về tội “Chứa mại dâm”, thời

hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2022.

Phạt bổ sung bằng tiền bị cáo S1 10.000.000đ (mười triệu đồng), nộp

ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000.000đ (một triệu đồng) 01 chiếc điện

thoại nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ, có số imei 860429049674435, gắn sim số 0973184574 và 0325657013 điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại Samsung J5 Prime màu vàng, có số IMEI: 355079082310587, gắm sim số 0363722938 cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu : 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh, đã bị xé

rách; 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng; 01 chiếc vỏ bao cao su nhãn hiệu CONDOM, màu xanh chưa qua sử dụng; 01 hộp đựng bao cao su có ghi chữ “CONDOM”, bên trong có 08 chiếc bao cao su vỏ màu xanh có chữ “CONDOM” in trên vỏ bao cao su.

3. Về tiền án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn S1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền

án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Cỡ chữ