vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành P: 02 (Hai) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 14/11/2022). Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thành P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thành P "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 18/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ksor Thí

Bà Nguyễn Thị Mý

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Thành P, sinh ngày 22/11/1991, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi ĐKHKTT: ấp 7, xã Phú Thịnh, huyện T , tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở trước khi phạm tội: Không ổn định; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Kim T1, sinh năm 1958, con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960; gia đình có 03 anh em, lớn sinh năm 1983, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01 Tiền án.

Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Đồng Nai kết án 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 86/2012/HSST, ngày 27/09/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/5/2013, chưa chấp hành phần án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng. (Chưa xóa án tích)

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/11/2022, sau đó bị tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Nhân thân:

Ngày 12/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai kết án 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2009/HSST.

Ngày 06/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia lai kết án 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2015/HSST.

Ngày 21/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai kết án 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2017/HSST ngày 21/11/2017.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/11/2022, sau đó bị tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại:

1.Ông Nguyễn Hữu T2sinh năm 1975;

Địa chỉ: Thôn 3, xã I , huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2. Anh Rơ Mah D2, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Làng De lung 2, xã I , huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/11/2022, Huỳnh Thành P đi bộ lang thang ở khu vực làng Nú 2, xã Ia Chía, huyện Ia Grai để tìm kiếm tài sản trộm cắp, lúc này P phát hiện tại rẫy cao su thuộc làng Nú 2, xã Ia Chía có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu đen bạc, BKS 81R1-3241 của anh Nguyễn Hữu T2 để ở đây, có gẵn chìa khóa trong ổ khóa, không có người trông coi nên P tiến lại gần rồi trộm cắp chiếc xe trên, P điều khiển xe một đoạn thì dừng lại tháo biển kiểm soát và vứt lại, sau đó điều khiển xe đến khu vực làng De Lung 2, xã I , huyện G thì phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS 81B2- 265.33 của anh Rơ Mah D2 để ở trước sân không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. P bỏ chiếc xe đã trộm cắp được của anh T2 ở lô cà phê gần nhà anh Dôl đi bộ lại gần chiếc xe Honda Wave RSX BKS 81B2- 265.33 của anh Rơ Mah D2 lén lút đấu nối dây điện nổ máy và điều khiển xe bỏ đi. Đến khoảng 20 giờ ngày 14/11/2022 khi P đang điều khiển xe mô tô trên thì bị bắt giữ tại thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai xác định: Giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen bạc không có BKS, số khung C6308Y170587, số máy 5C63170587 đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 12/11/2022 có giá trị 2.166.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai xác định:Giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS 81B2-265.33 đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 13/11/2022 có giá trị 8.166.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản 02 xe máy là: 10.332.000 đồng.

Trong quá trình điều tra xác định ngoài 02 lần trộm cắp tài sản nêu trên bị Huỳnh Thành P đã từng 04 lần bị kết án, trong đó 01 lần tội Cố ý gây thương tích, 03 lần tội Trộm cắp tài sản và đã tái phạm nguy hiểm, cụ thể:

Ngày 12/11/2009 Huỳnh Thành P bị Tòa án nhân dân huyện C , Gia Lai xử phạt 24 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 67/2009/HSST, chấp hành án tại Trại giam Gia Trung - Bộ Công an. Ngày 10/3/2011 chấp hành xong hình phạt chở về sinh sống tại xã Phú Thịnh, huyện T , tỉnh Đồng Nai và làm nghề phụ xe; Ngày 18/7/2012 tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện T , Đồng Nai xét xử theo bản án số 86/2012/HSST ngày 27/9/2012, tuyên phạt 10 tháng tù giam, chấp hành án tại Trại giam Sông Cái- Bộ Công an. Ngày 19/5/2013 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống (lần nay đến nay bị can chưa nộp án phí); Ngày 17/7/2014 tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện K, Gia Lai xét xử theo bản án số 01/2015/HSST ngày 06/01/2015 tuyên phạt 30 tháng tù giam, chấp hành án tại Trại Giam Xuân Phước - Bộ Công an. Ngày 27/12/2016 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 10/7/2017 tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện K xét xử theo bản án số 30/2017/HSST ngày 21/11/2017 tuyên phạt 39 tháng tù giam, chấp hành án tại Trại giam Xuân Phước - Bộ Công an. Tháng 7/2020 chấp hành xong hình phạt, trở về địa phương sinh sống.

Ngày 22/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai ra Quyết định khởi tố bị vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bị can Huỳnh Thành P; Quá trình điều tra đã tạm giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen bạc, không có BKS, số khung C6308Y170587, số máy 5C63170587 đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS 81B2- 265.33 đã qua sử dụng. Ngày 21/12/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ia Grai đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01/QĐ-XLĐV bằng hình thức trả lại cho anh Nguyễn Hữu T2Rơ Mah D2 các tài sản trên.

Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị hại Nguyễn Hữu T2Rơ Mah D2 không có yêu cầu gì thêm. Ngày 10/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ia Grai đã kết thúc điều tra ban hành kết luận số 13 ngày 10/02/2023 đề nghị truy tố Huỳnh Thành P tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

b. Các vấn đề khác của vụ án:

- Về dân sự:

Bị hại ông Nguyễn Hữu T2anh Rơ Mah D2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về hình sự: Người bị hại Nguyễn Hữu T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

- Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Ia Grai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người bị hại Nguyễn Hữu T2Rơ Mah D2 xe mô tô mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 07 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Huỳnh Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

c. Tại phiên tòa:

Bị cáo Huỳnh Thành P thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, ăn năn, hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, kiểm sát viên rút một phần Quyết định truy tố, thay đổi khung hình phạt đã truy tố đối với Huỳnh Thành P theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự tại Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 07 tháng 3 năm 2023, thành truy tố khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thành P từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu T2anh Rơ Mah D2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ia Grai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội và tội danh đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thành P khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 12/11/2022, Huỳnh Thành P đã trộm cắp xe mô tô Biển kiểm soát 81R1 – 3241 của anh Nguyễn Hữu T2 để tại khu vực làng Nú, xã Ia hía, huyện Ia Grai,tỉnh gia lai, trị giá 2.166.000đồng; Ngày 13/11/2022, trộm cắp 01 xe mô tô Biển kiểm soát 81B2 - 265.33 của anh Rơ Mah D2, để tại xã I , huyện G, trị giá 8.166.000đồng. Bị cáo Huỳnh Thành P nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật, nhưng để có tiền tiêu xài bị cáo đã bất chấp pháp luật vẫn thực hiện tội phạm, khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực trác nhiệm hình sự.

Tính đến thời điểm ngày 12/11/2022 thì Huỳnh Thành P đã bị kết án 04 lần: Trong đó 02 lần bị kết án đã được xoá án tích là: Bản án số 01/2015/HSST ngày 06/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia lai và Bản án số 30/2017/HSST ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai. Đối với Bản án số 67/2009/HSST, ngày 12/11/2009, hiện nay theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo tại điểm b khoản 1 Điều 107 của BLHS năm 2015, là: "1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:…..b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý". thì lần bị kết án tại bị cáo được xem là không có án tích vì khi bị kết án bị cáo 17 năm 11 tháng 20 ngày tuổi và về tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo có 01 tiền án là bản án là Bản án số 86/2012/HSST, ngày 27/09/2012, vì chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định Tội trộm cắp tài sản như sau: 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Thành P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thành P là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố đối với Huỳnh Thành P tại Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 07 tháng 3 năm 2023, từ truy tố đối với Huỳnh Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thành truy tố bị cáo Huỳnh Thành P theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự, các Điều 319 và khoản 1 Điều 325 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, không cải tạo, tu dưỡng, mà tiếp tục phạm tội, nên phải nghiệm trị đối với bị cáo mới đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi bị bắt giữ, trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về việc trộm cắp xe mô tô của anh Nguyễn Hữu T2 ngày 12/11/2022, bị cáo cũng thành khẩn khai nhận việc trộm cắp xe của anh Rơ Mah Dô, anh Dôl đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, tài sản đã được trả lại cho người bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, bị cáo trộm cắp 02 lần, mỗi lần đều trên 2.000.000đồng nên phạm vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Về hình phạt:

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã gây ra, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, với mức cao trong khung hình phạt đã phạm là phù hợp, thỏa đáng.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu T2anh Rơ Mah D2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành P: 02 (Hai) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 14/11/2022).

3.Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thành P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử P thẩm. Đối với người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ