vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 09/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sơn.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 237/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: 383/50/25A đường L, tổ dân phố 24, Khu phố 3, Phường 17, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973 và bà Phạm Ngọc H, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2022 tại Nhà tạm giữ tạm giam Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Mohamed Hoàng T, sinh năm 1989 tại: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: 33/16 Lê Hoàng Phái, Khu phố 4, Phường 17, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Không rõ họ tên và bà Mohamed P, sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 55/2012/HSST ngày 05/10/2012; Năm 2015 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 228/2015/HSST ngày 10/11/2015; Tiền sự: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 322/QĐ-TA ngày 27/12/2017; Năm 2020 bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 100/QĐ-TA ngày 28/4/2020; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Đăng H, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Địa chỉ: A1/44D ấp 1, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 ngày 14/6/2022 Nguyễn Tấn Đ rủ Mohamed Hoàng T đi cướp giật tài sản, Thiện đồng ý. Sau đó Đức điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số: 59V3-352.48 chở T đi đến trước nhà số 32/7 Phan Văn Đối, ấp Tiền Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn thì Đ phát hiện ông Lê Đăng H đang dừng xe máy bên đường, trên tay trái ông H đang cầm 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S áp sát vào tai trái để nghe điện thoại nên Đ nói với Thiện giật điện thoại trên. Sau đó, Đ điều khiển xe áp sát bên trái ông H để T ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại của ông H, rồi Đ tăng ga tẩu thoát làm xe bị bốc đầu xe và T bị té ngã xuống đường, bị ông H cùng quần chúng nhân dân bắt quả tang cùng điện thoại vừa giật được. Riêng Đ bỏ chạy thoát. Đến ngày 15/6/2022 Đ ra đầu thú.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ.

Tại bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hóc Môn số 93/KL-HĐĐGTS ngày 30/6/2022: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S trị giá 1.000.000 đồng (BL 26-27).

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số: 59V3-352.48, số khung: RLHJA3651LY007597, số máy: JA36E0858101. Qua xác minh xe do bị can Nguyễn Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu, dùng làm phương tiện phạm tội.

- 01 áo thun ngắn tay màu xám, phía trước ngực áo có 03 dòng chữ “PROPERTY OF, EAGLES, TRUMBULL; 01 quần kaki ngắn màu hồng; 01 áo khoác dài tay màu đen có nón, phía trước ngực áo bên trái có dòng chữ “YVESSAINTLAURENT”; 01 quần jean dài màu đen, mặt bên trong phía sau ngay thắt lưng có dòng chữ “AIMIRI”; 01 nón bảo hiểm màu xanh thu giữ của Đức và Thiện là trang phục khi cả hai thực hiện hành vi phạm tội.

Về dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 222/CT-VKS-HM ngày 01/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Mohamed Hoàng T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố đối và đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Đức, Mohamed Hoàng Th phạm tội “Cướp giật tài sản”:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mohamed Hoàng T từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số: 59V3-352.48, số khung: RLHJA3651LY007597, số máy: JA36E0858101 do bị cáo Nguyễn Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu, dùng làm phương tiện phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu xám, phía trước ngực áo có 03 dòng chữ “PROPERTY OF, EAGLES, TRUMBULL; 01 quần kaki ngắn màu hồng; 01 áo khoác dài tay màu đen có nón, phía trước ngực áo bên trái có dòng chữ “YVESSAINTLAURENT”; 01 quần jean dài màu đen, mặt bên trong phía sau ngay thắt lưng có dòng chữ “AIMIRI”; 01 nón bảo hiểm màu xanh, thu giữ của Đ và T là trang phục khi cả hai thực hiện hành vi phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 ngày 14/6/2022, tại trước nhà số 32/7 Phan Văn Đối, ấp Tiền Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Tấn Đ và Mohamed Hoàng T có hành vi sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ để áp sát, nhanh chóng thực hiện hành vi chiếm đoạt điện thoại di động hiệu VIVO Y21S trị giá 1.000.000 đồng (kết luận định giá số 93/KL-HĐĐGTS ngày 30/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn) của bị hại ông Lê Đăng H, sau đó nhanh chóng tẩu thoát.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Mohamed Hoàng T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Riêng đối với bị cáo Mohamed Hoàng T: Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí chỉ áp dụng 01 tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và áp dụng tình tiết tặng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thiện là chưa phù hợp. Bởi lẽ, năm 2012 bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 55/2012/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2012, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2014; Đến năm 2015 bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội “Cướp giật tài sản” nên bị Tòa án bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù và bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo Bản án số 228/2015/HSST ngày 10/11/2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2017, chưa đóng án phí, chưa được xóa án tích; Đến năm 2022 bị cáo T lại phạm tội “Cướp giật tài sản” nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Do vậy, bị cáo Mohamed Hoàng T ngoài việc bị truy tố về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như trên, bị cáo Thiện còn phải bị áp dụng thêm tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Đồng thời không áp dụng tình tiết tặng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, không có người chỉ huy, cầm đầu. Do vậy, các bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội, trong đó bị cáo Đ là người rủ rê và là người chở bị cáo Thiện để bị cáo Thiện trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình. Do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Đ, T.

Ngoài ra, bị cáo Đức phạm tội lần đầu, tự nguyện ra đầu thú nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Đ là phù hợp.

Xét về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo Đ, T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tiền sự: Bị cáo T có nhân thân xấu và có 02 tiền sự

- Năm 2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 322/QĐ-TA ngày 27 tháng 12 năm 2017.

- Năm 2020 bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 100/QĐ-TA ngày 28 tháng 4 năm 2020.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số: 59V3-352.48, số khung: RLHJA3651LY007597, số máy: JA36E0858101 do bị cáo Nguyễn Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu, dùng làm phương tiện phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu xám, phía trước ngực áo có 03 dòng chữ “PROPERTY OF, EAGLES, TRUMBULL; 01 quần kaki ngắn màu hồng; 01 áo khoác dài tay màu đen có nón, phía trước ngực áo bên trái có dòng chữ “YVESSAINTLAURENT”; 01 quần jean dài màu đen, mặt bên trong phía sau ngay thắt lưng có dòng chữ “AIMIRI”; 01 nón bảo hiểm màu xanh, thu giữ của Đức và Thiện là trang phục khi cả hai thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Mohamed Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn Đ;

- Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mohamed Hoàng T;

- Áp dụng Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2022.

3. Xử phạt bị cáo Mohamed Hoàng T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/06/2022.

4. Tạm giam bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

5. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số: 59V3-352.48, số khung: RLHJA3651LY007597, số máy: JA36E0858101 do bị cáo Nguyễn Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu, dùng làm phương tiện phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu xám, phía trước ngực áo có 03 dòng chữ “PROPERTY OF, EAGLES, TRUMBULL; 01 quần kaki ngắn màu hồng; 01 áo khoác dài tay màu đen có nón, phía trước ngực áo bên trái có dòng chữ “YVESSAINTLAURENT”; 01 quần jean dài màu đen, mặt bên trong phía sau ngay thắt lưng có dòng chữ “AIMIRI”; 01 nón bảo hiểm màu xanh, thu giữ của Đức và Thiện là trang phục khi cả hai thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 180/QĐ-VKS-HS ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2022).

6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ và bị cáo Mohamed Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ