vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 01 (một) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NTV - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 26/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Thanh

Ông Nguyễn Văn Tư

- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Hải Ân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/HSST ngày 05/4/2023 xét xử công khai đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn Vsinh ngày: 04/10/1989; sinh quán: tỉnh Tiền Giang; trú tại: ấp , xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; Cha Nguyễn Văn S, sinh N 1960. Nghề nghiệp: buôn bán: Mẹ Đoàn Thị B, sinh N 1958. Nghề nghiệp: buôn bán; Anh, chị, em ruột: 04 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thùy L (đã ly thân); Bị cáo chưa có hoạt động gì về chính trị - xã hội;

- Tiền sự: 01, ngày 20/12/2022 bị Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Cai Lậy, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 N kể từ ngày 20/12/2022.

- Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/01/2023 chuyển giam từ 09/01/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cai Lậy.

Người bị hại: Nguyễn Văn B N, sinh N 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 1, ấp T Đ, xã Thân C N, huyện C T, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị M D, sinh N 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp , xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, V điện thoại cho anh Nguyễn Văn B N, sinh N 1985, địa chỉ: tổ 1, ấp T Đ, xã Thân C N, huyện C T, tỉnh Tiền Giang.g làm Giám đốc Công ty cứu hộ 118 Tiền Giang, để thực hiện ý định chiếm đoạt tài sản, V nói dối anh N là V có xe ô tô bị tai nạn tại ấp , xã MTN, huyện Ccần thuê Công ty của anh N đến cẩu xe về bãi xe để sửa chữa và hỏi mượn anh N 5.000.000 đồng để bồi thường tai nạn khi nào lấy xe sẽ trả lại, được anh N đồng ý. Đến 00 giờ 59 phút, ngày 06/01/2023, V điều khiển xe mô tô biển số 51Z9 – 8481 và đem theo chìa khóa bằng kim loại hiệu XLLHE đi dọc theo Quốc Lộ 1 từ nhà đến ấp , xã MTN, huyện Cđể tìm địa điểm thực hiện hành vi lừa đảo anh N, trên đường đi V nhìn thấy 02 xe ô tô đang đậu trong nhà người dân thuộc ấp 6, xã Phú An, huyện Cai Lậy (gần dốc cầu Bà Tồn), nên V yêu cầu anh N điều khiển xe cứu hộ đến gần vị trí có 02 xe ô tô, còn V đem xe cất giấu dưới chân cầu Bà Tồn, thuộc ấp 10, xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, rồi đứng đợi anh N đến để nói dối xe của V đang hư hỏng được để trong nhà, khi nhìn thấy anh N điều khiển xe cứu hộ chở Nguyễn Khánh Duy, sinh N 2006, địa chỉ: tổ 1, ấp T Đ, xã Thân C N, huyện C T, tỉnh Tiền Giang.g đến gặp V, tại đây V đưa chìa khóa cho anh N và chỉ qua lộ đối diện thuộc ấp , xã P, huyện C nơi có xe ô tô không phải của V đang đậu trong nhà dân để nhờ cứu hộ và yêu cầu anh N đưa mượn 5.000.000 đồng, để bồi thường tai nạn nghĩ là thật nên anh N đưa cho V 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, sau khi nhận tiền V cầm đếm được 05 đến 06 lần nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng còn lại V không đếm mà tiếp tục hỏi mượn thêm 300.000 đồng để thuê xe về nhà, được anh N đồng ý và đưa thêm 250.000 đồng (gồm 01 tờ tiền 200.000 đồng; 01 tờ tiền 50.000 đồng) V cầm trên tay rồi bỏ đi để chiếm đoạt tài sản, anh N nghi ngờ V lừa đảo nên cùng D đuổi theo bắt giữ được V cùng tang vật, giao Công an xử lý.

Vật chứng thu giữ, gồm:

Tiền Việt Nam 5.250.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Nokia 106 bên trong có 01 sim điện thoại 0586.290.669; 01 xe mô tô biển số 51Z9 – 8481; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 51Z9 – 8481; 01 chìa khóa bằng kim loại hiệu XLLHE; 01 túi vải jean màu xanh; 01 đĩa DVD bên trong có đoạn video ghi lại nội dung vụ việc; 01 đĩa DVD bên trong có 01 đoạn clip ghi lại số seri tiền.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy đã trả lại cho bị hại Nguyễn Văn B N số tiền 5.250.000 đồng. Đối với xe mô tô biển số 51Z9 – 8481 chị Nguyễn Thị M D đã mua lại và tặng cho V nhưng không làm thủ tục sang tên.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn Vcó thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSHCL ngày 03/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn V về tội “ lừa đảo chiếm đoạt tài sản ” theo quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn B N đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Vphạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Vtừ 01 N 6 tháng đến 02 N tù

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay sau khi nghe đại diện Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cai Lậy công bố cáo trạng truy tố. Bị cáo đã nhận tội, công nhận hành vi của bị cáo được nêu trong bản cáo trạng là hoàn toàn đúng. Bị cáo không có ý kiến gì.

Bị cáo Nguyễn Tuấn V là đối tượng sử dụng ma túy và không nghề nghiệp ổn định, không có đăng ký sử dụng phương tiện xe ô tô, lúc 00 giờ 59 phút, ngày 06/01/2023, tại ấp 10, xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, Nguyễn Tuấn V đã có hành vi gian dối điện thoại thuê anh Nguyễn Văn B N cứu hộ xe bị nạn để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 5.250.000 đồng, sau khi lấy được tiền bỏ đi anh N nghi ngờ bị lừa đảo nên bắt lại thì bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo bất chấp vì mục đích có tiền tiêu sài cá nhân, sử dụng ma túy. Vì vậy phải xử phạt bị cáo bằng mức án tương xứng, đồng thời cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn V có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình.

Xét thấy nhân thân của bị cáo đã có một tiền sự: ngày 20/12/2022 bị Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Cai Lậy, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 N kể từ ngày 20/12/2022.

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn B N đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy đã trả lại cho bị hại Nguyễn Văn B N số tiền 5.250.000 đồng.

Đối với xe mô tô biển số 51Z9 – 8481 chị Nguyễn Thị M D đã mua lại và tặng cho V nhưng không làm thủ tục sang tên, bị cáo V điều khiển xe để tiềm địa điểm thực hiện hành vi lừa đảo là công cụ phạm tội nên tịch thu xung quỹ.

Đối với điện thoai hiệu Nokia 106 bên trong có 01 sim điện thoại 0586.290.669 bị cáo V dùng gọi điện lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại nên tịch thu xung quỷ.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Tuấn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo, người bị hại, người giám hộ của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51,

Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 01 (một) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày

06/01/2023

3. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước: đối với 01 điện thoại hiệu Nokia 106 bên trong có 01 sim điện thoại 0586.290.669; 01 xe mô tô biển số 51Z9 – 8481;

Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa bằng kim loại hiệu XLLHE; 01 túi vải jean màu xanh.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Tuấn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bịcáo có quyền kháng cáobản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ