- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị PH với anh H"
- Tòa quyết gì? 1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ - ST Ngày: 21 - 02 - 2023 “ V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết
- Các hội thẩm nhân dân:
1.Ông Sơn Mứt
2. Ông Lương Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Khâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 225/2022/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1999 – xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1995 - vắng mặt
Cùng địa chỉ: tổ 37, Khóm A, phường D, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2022 chị Nguyễn Thị Thúy P có nội dung yêu cầu: Vào tháng 5 năm 2017 chị với anh Trần Thanh H có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, hai bên do quen biết được cha mẹ hai bên đồng ý, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thị xã Bình Minh. Sau khi cưới về sống chung tại phường D, thị xã Bình Minh, thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng gần đây chúng tôi có nhiều mâu thuẫn như cãi nhau, vợ chồng bất đồng ý kiến và sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Quá trình sống chung có 01 con chung là: Trần Nhã Cát T, sinh ngày 22/8/2017, hiện do chị P nuôn dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Nay chị P yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh H. Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu con chung là Trần Nhã Cát T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, để tự thỏa thuận.
- Về nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Trần Thanh H vắng mặt tại phiên Tòa, không có lý do không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét việc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Trần Thanh H được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng cố tình vắng mặt. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt.
Xét mối quan hệ gia đình giữa chị Nguyễn Thị Thúy P với anh Trần Thanh H có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị P, anh H có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, mâu thuẫn về kinh tế gia đình, anh H không chí thú làm ăn, lo ăn chơi, không lo cho vợ và con. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã mời hòa giải nhiều lần, nh m giúp hai bên đoàn tụ và cho hai bên có thời gian hàn gắn tình cảm, nhưng không trở về đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chấp nhận yêu cầu ly hoân của nguyên đơn chị Phượng. Cho chị Nguyễn Thị Thúy P được ly hôn với anh Lê Trần Thanh H.
Về con chung, có 01 con chung: Trần Nhã Cát T, sinh ngày 22/8/2017, hiện do chị Phượng nuôn dưỡng. Khi ly hôn chị Phượng yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị P là có căn cứ; Bởi các lẽ: Từ khi ly thân con chung Trần Nhã Cát T do chị P trược tiếp chăn sóc giáo dục, hơn nữa cháu đã có cuộc sống ổn định và được đi học, tránh làm ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt của các cháu. Cần tiếp tục giáo cháu: Trần Nhã Cát T, sinh ngày 22/8/2017 cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét việc chị P chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Thanh H có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận. Bị đơn anh Hiệp không có ý kiến phản bác, không xem xét.
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Bị đơn không có ý kiến phản bác, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy P phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012779, ngày 29/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị P không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy P.
Cho chị Nguyễn Thị Thúy P được ly hôn với anh Trần Thanh H.
2/Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Trần Nhã Cát T, sinh ngày 22/8/2017 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị P chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Thanh H có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
3/Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
4/Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
5/Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy P phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng theo biên lai thu số 0012779, ngày 29/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị P không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6/Quyền kháng cáo: Án xử công khai, vắng mặt chị P, anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND TX Bình Minh; - CC THADS TX Bình Minh; - UBND xã Đông Bình; - Đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ký Trƣơng Minh Thiết |