vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc P1. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T ly hôn với P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 17/02/2023.
V/v “Ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH TIỀN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Tất Ái.

2/ Bà Nguyễn Thị Kiều Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 642/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXX-ST ngày 11/01/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - sinh năm: 1988;

Địa chỉ: Số 155/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường M, thành phố Q, Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc P1 - sinh năm: 1977;

Địa chỉ: Số 155/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường M, thành phố Q, Tiền Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh P1 sống chung vào năm 2010, do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M vào ngày 09/6/2010. Cuộc sống chung của vợ chồng chị rất hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh P1 không quan tâm, chăm sóc và lo lắng cho gia đình. Anh chị đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh P1.

Về con chung: Anh chị có con chung tên Nguyễn Thanh P2, sinh ngày 13/11/2009. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.

- 2 -

* Bị đơn anh Nguyễn Ngọc P1 vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ và không có bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Về nội dung xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh P1 là có thật, thời gian ly thân đã kéo dài. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh P1 đều vắng mặt nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh P1, giải quyết vấn đề con chung của anh chị. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về thẩm quyền gải quyết: Bị đơn đang cư trú tại số 155/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường M, thành phố Q, Tiền Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Q có thẩm quyền giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó căn cứ Điều 228 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, Tòa xét thấy: Chị T trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng ý kiến, thường xuyên cụ cãi nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh chị đã ly thận từ năm 2015. Tòa án đã triệu tập anh P1 nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắng mối quan hệ vợ chồng nhưng anh P1 vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Qua đó cho thấy, anh P1 không có thành ý cứu vãn mối quan hệ hôn nhân với chị T. Do đó, Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng không thể hàn gắng được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh P1.

Về con chung: Xét thấy con chung đang sống ổn định với chị T. Do đó yêu cầu nuôi con chung của chị T là có cơ sở và phù hợp với nguyện vọng của cháu P2 nên Toà án chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có nên Toà án không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm xét thấy phù hợp với những nhận định trên nên được chấp nhận.

- 3 -

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc P1.

Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Thanh P2, sinh ngày 13/11/2009 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng.

- Anh Nguyễn Ngọc P1 được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền cản trở.

2. Án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0022924 ngày 07/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Q.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ