vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thu Ph được ly hôn anh Vũ Văn Tr.

Về quan hệ con chung: giao con chung Vũ Bảo L, sinh ngày 19/02/2015 cho chị Nguyễn Thu Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph về việc không yêu cầu anh Vũ Văn Tr góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh Tr có quyền thăm nom con chung. Chị Ph và anh Tr có quyền yêu cầu thay đổi người trực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thu Ph - Vũ Văn Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thu Ph được ly hôn anh Vũ Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ -ST
Ngày 16/3/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Duyên

2. Bà Bùi Thị Ngoan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang – thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương.

- Đại diện VKSND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16/3/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐSXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu Ph, sinh năm 1995

Nơi ĐKHKTT: thôn *, xã V, huyện X, tỉnh Thái Bình.

Chỗ ở hiện nay: thôn *, xã V, huyện X, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Tr, sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn *, xã V, huyện X, tỉnh Thái Bình.

(chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thu Ph trình bày: chị và anh Vũ Văn Tr tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Kiến Xương vào ngày 25/12/2014. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống đến cuối năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Tr ham chơi, không có trách nhiệm với gia đình, do vậy vợ chồng thường xảy ra xô xát. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhiều song anh Tr không thay đổi nên chị và con đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ đầu năm 2019 đến nay. Chị không còn tình cảm, không trở về đoàn tụ với anh Tr được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: chị và anh Tr có một con chung tên Vũ Bảo L, sinh ngày 19/02/2015, từ khi sống ly thân anh Tr không thăm nom, không có trách nhiệm gì với con, do vậy chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, không yêu cầu anh Tr góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị làm công nhân may tại công ty T - nhà máy 5, địa chỉ xã V, huyện Kiến Xương thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/ tháng. Con Vũ Bảo L có nguyện vọng được ở với chị Ph.

Về tài sản và nợ chung: không có, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh Tr không đến làm việc theo giấy báo, cũng không gửi ý kiến về các nội dung khởi kiện của chị Ph.

Kết quả xác minh tại UBND xã V, huyện Kiến Xương thể hiện: sau khi kết hôn anh Tr và chị Ph chung sống đến khoảng năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh Tr không chăm lo cho gia đình, chị Ph đã về nhà bố mẹ đẻ ở được khoảng hai năm, anh Tr đi lao động tự do thỉnh thoảng có về nhà. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thu Ph được ly hôn anh Vũ Văn Tr. Giao con chung Vũ Bảo L cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph về việc không yêu cầu anh Tr góp tiền cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này. Về án phí chị Ph phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thu Ph khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Văn Tr có nơi cư trú tại xã Vũ Hòa, huyện Kiến Xương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thu Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Văn Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị Ph và anh Tr tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Năm 2019 anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong cách sống, anh Tr không có trách nhiệm với gia đình, từ đó hai bên sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Anh Tr biết việc chị Ph xin ly hôn nhưng bỏ mặc, không thể hiện quan điểm của mình về các yêu cầu của chị Ph, cho thấy anh không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Ph xử cho chị được ly hôn anh Tr.

Về quan hệ con chung: cháu Vũ Bảo L là nữ, hiện đang ở với chị Ph, anh Tr thường xuyên vắng nhà, nên giao con chung cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph về việc không yêu cầu anh Tr góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: chị Ph khai không có, Tòa án không ghi được ý kiến của anh Tr nên về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: chị Nguyễn Thu Ph phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thu Ph được ly hôn anh Vũ Văn Tr.

2.Về quan hệ con chung: giao con chung Vũ Bảo L, sinh ngày 19/02/2015 cho chị Nguyễn Thu Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph về việc không yêu cầu anh Vũ Văn Tr góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh Tr có quyền thăm nom con chung. Chị Ph và anh Tr có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản và nợ chung: không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: chị Nguyễn Thu Ph phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Ph đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001759 ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, chị Ph đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ