- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị P và anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phan Thị P được ly hôn anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày 03- 03-2023 V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh
Bà Đặng Thị Đôi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị P, sinh năm 1992; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 12 tháng 12 năm 2022 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Phan Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị P và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 10 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, anh T không chăm lo, quan tâm đến cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Đến đầu năm 2021 chị P đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị P và anh T không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Phạm Văn T.
Về con chung: Chị P khai vợ chồng có 02 con chung là Phạm Tuấn K, sinh ngày 28/8/2013 và Phạm Anh D, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2018. Trường hợp ly hôn chị P đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Anh D và đồng ý để anh T nuôi dưỡng cháu Phạm Tuấn K cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị P tự thỏa thuận với anh T, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị P để tự thỏa thuận với anh T, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Văn T khai: Anh T đồng ý với lời khai của chị P về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống. Trong thời gian chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn chủ yếu vì vấn đề làm ăn kinh tế nhưng anh T cho rằng đó là mẫu thuẫn nhỏ nhặt, đến đầu năm 2021 thì chị P tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Chị P đề nghị được ly hôn nhưng anh T không đồng ý vì cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn có khả năng đoàn tụ.
Về con chung: Anh T đồng ý với lời khai của chị P về con chung, trường hợp ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh T khai để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị P và anh Phạm Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị P được ly hôn anh T. Về con chung, giao con là Phạm Anh D cho chị P nuôi dưỡng, giao con là Phạm Tuấn K cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị P, anh T đề nghị để tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do chị P, anh T đề nghị để tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:: Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Phan Thị P và anh Phạm Văn T, anh T hiện đang cư trú tại địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị P và anh Phạm Văn T được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt, làm ăn kinh tế cũng như nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn nên chị P và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T phù hợp với lời khai của chị P, anh T. Chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, anh T không đồng ý ly hôn nhưng không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải đồng thời tại phiên tòa chị P vẫn kiên quyết đề nghị được ly hôn với anh T. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị P xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị P và anh T có 02 con chung là Phạm Tuấn K, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2013 và Phạm Anh D, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2018. Trường hợp ly hôn chị P đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D vì cháu D còn nhỏ và chị đủ điều kiện để chăm sóc con chung đồng thời đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn K. Anh T đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như đảm bảo quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của cả cha, mẹ. Xét hiện nay cháu D còn nhỏ, chị P khai làm lao động tự do thu nhập trung bình 10.000.000 đồng/tháng và hiện đang ở cùng nhà với bố mẹ đẻ, đủ điều kiện chăm sóc cháu D; anh T đang làm thợ cơ khí tại nhà, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng/tháng và cháu Tuấn K có nguyện vọng muốn ở cùng bố là anh Phạm Văn T. Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện cả chị P và anh T đều có khả năng nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của chị P, giao con chung là Phạm Anh D cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là Phạm Tuấn K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị P, anh T đề nghị để tự thỏa thuận với nhau, không đề nghị Tòa án xem xét, do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị P, anh T khai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án xem xét, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị P được ly hôn anh Phạm Văn T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Phạm Anh D, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2018 cho chị Phan Thị P trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Tuấn K, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2013 cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phan Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai số 0001846 ngày 14/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị P, anh Phạm Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã Đ, K; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |