vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Hoàng D được ly hôn chị Phạm Thị Thùy L.

Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/09/2015. Anh Vi Hoàng D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Phạm Thị Thùy L không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm no…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn DL"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Hoàng D được ly hôn chị Phạm Thị Thùy L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 06 - 2023
"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Diện

Bà Nguyễn Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vi Hoàng D, sinh năm 1988; (vắng mặt)

Trú tại: thôn K, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thùy L, sinh năm1995; (vắng mặt)

Trú tại: thôn K, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 16/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Vi Hoàng D trình bày: anh và chị L chung sống với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang vào ngày 06/10/2015 theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 06 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị L thường xuyên bỏ đi không có lý do, đến ngày 23/8/2022 chị L bỏ đi hẳn đến nay không về khiến cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung như vậy nên anh Vi Hoàng D đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị Thùy L. Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/9/2015, khi ly hôn anh D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập chị Phạm Thị Thùy L nhiều lần nhưng chị L không có mặt để tham gia tố tụng do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án. Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo luật định.

Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn K, xã Đồng Yên; công chức tư pháp xã Đồng Yên; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Đồng Yên, bố đẻ anh Vi Hoàng D, Phó trưởng công an xã Đồng Yên phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh Vi Hoàng D và chị Phạm Thị Thùy L như sau: Chị Phạm Thị Thùy L có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã Đ, huyện B nhưng hiện vắng mặt tại địa phương do chị là lao động tự do, đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới thấy chị L về địa phương. Anh Vi Hoàng D và chị Phạm Thị Thùy L đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Yên vào năm 2015 trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, anh D và chị L có xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân không rõ do anh chị không đề nghị hòa giải tại cơ sở. Chị L đã bỏ đi từ tháng 8 năm 2022 và anh chị sống ly thân từ đó không quan tâm đến nhau. Về con chung, vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/9/2015, hiện cháu sống cùng bố và ông bà nội tại thôn K, xã Đ và anh D đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con tốt.

Tại đơn trình bày nguyện vọng, cháu Vi Hoàng D trình bày nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố vì cháu ở với bố từ bé nên đã quen rồi.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Vi Hoàng D được ly hôn chị Phạm Thị Thùy L. Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/09/2015, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là anh Vi Hoàng D chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là anh Vi Hoàng D có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là chị Phạm Thị Thùy L, chị Phạm Thị Thùy L có nơi cư trú tại thôn K, xã Đ, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Vi Hoàng D vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Phạm Thị Thùy L vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Thùy L.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Vi Hoàng D và chị Phạm Thị Thùy L xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay anh Vi Hoàng D có yêu cầu xin ly hôn chị Phạm Thị Thùy L. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Vi Hoàng D được ly hôn chị Phạm Thị Thùy L.

[4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/9/2015. Anh D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu V do anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chính quyền địa phương cung cấp cháu V được bố trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo cuộc sống tốt, mặt khác cháu V (đủ 7 tuổi) có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Vi Hoàng V cho anh Vi Hoàng D trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vi Hoàng D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, chị Phạm Thị Thùy L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: anh Vi Hoàng D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: nguyên đơn anh Vi Hoàng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Hoàng D được ly hôn chị Phạm Thị Thùy L.

2. Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vi Hoàng V, sinh ngày 05/09/2015. Anh Vi Hoàng D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Phạm Thị Thùy L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung anh D, chị L có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Anh Vi Hoàng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0003248 ngày 16 tháng 02 năm 2023.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hà Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Hà Giang;

- VKSND huyện Bắc Quang;

- Chi cục THADS huyện Bắc Quang;

- UBND xã Đ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đỗ Hải Hà CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Tuấn Vĩnh Nguyễn Thị Oanh Nguyễn Hồng Diện

Cỡ chữ