vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Ngân Thị H được ly hôn anh Lự Văn H1.

Về con chung: Giao cho Chị Ngân Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lự Thanh N sinh ngày xx/yy/20xx, anh Lự Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ngân Thị H xin ly hôn anh Lự Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Ngân Thị H được ly hôn anh Lự Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH YÊN BÁI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Công Thắng;

2. Ông Dương Trung Lợi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Diệp Linh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện V.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2022/TLST - HNGĐ ngày 20/12/2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngân Thị H, sinh năm 1997.Địa chỉ: Thôn Bản V, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; “Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Lự Văn H1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Bản V, xã Gi, huyện V, tỉnh Yên Bái; “Vắng mặt không có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai Chị Ngân Thị H trình bày: Chị và anh Lự Văn H1 kết hôn và có đăng ký vào ngày 28/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn Bản V, xã Gi, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống đến tháng 02/2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh H1 hay rượu chè, cờ bạc, bỏ bê gia đình và không chịu làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2020 đến nay. Hiện tại chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh H1.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lự Thanh N, sinh ngày xx/yy/20xx. Sau ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Lự Văn H1 không có mặt để giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 17/01/2023 trưởng Thôn Bản V, xã G cho biết: Chị H và anh H1 kết hôn có đăng ký tại UBND xã Gia Hội. Sau khi kết hôn anh chị có chung sống tại Thôn Bản V, xã G. Trong quá trình sống chung vợ chồng cũng có mâu thuẫn nguyên nhân do anh H1 chơi bời, cờ bạc không chịu làm ăn. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020. Anh H1 và chị H có 01 con chung là Lự Thanh N, sinh ngày xx/yy/20xx, hiện con chung đang ở với mẹ.

Tại biên bản xác minh ngày 17/01/2023, Phó Trưởng Công an xã Gia Hội cho biết: Anh Lự Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại Thôn Bản V, xã G. Hiện nay anh H1 đi làm ăn thi thoảng vẫn về địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Ngân Thị H: Xử cho chị H được ly hôn anh Lự Văn H1; về con chung: Đề nghị HĐXX giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lự Thanh N, anh Lự Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lự Văn H1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Bản V, xã Gi, huyện V, tỉnh Yên Bái vụ án do Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Lự Văn H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Ngân Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt Chị Ngân Thị H và anh Lự Văn H1.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị H và anh Lự Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký ngày 28/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Lự Văn H1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp do đó thường xuyên cãi nhau, anh H1 hay rượu chè, cờ bạc, bỏ bê gia đình và không chịu làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2 năm 2020 đến nay. Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương xác định trong quá trình sống chung chị H và anh H1 có mâu thuẫn nguyên nhân do anh H1 chơi bời, không chịu làm ăn, cờ bạc. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lự Thanh N, sinh ngày xx/yy/20xx. Chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con; cháu Lự Thanh N là có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo tốt nhất mọi mặt về vật chất, tinh thần và theo ý chí, nguyện vọng của con chưa thành niên. Hiện tại con chung đang do chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh H1 không có mặt tại Tòa án để trình bày nguyện vọng của mình, cần giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Ngân Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000 đồng;

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Ngân Thị H được ly hôn anh Lự Văn H1.

2. Về con chung: Giao cho Chị Ngân Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lự Thanh N sinh ngày xx/yy/20xx, anh Lự Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Ngân Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số AA/2021/0002758 ngày 20/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ