vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn M.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019 cho chị Quàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "giải quyết ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 30–01–2023
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Quốc, Bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh SL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh SL tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2022/TLST - HNGĐ ngày 21-11-2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10-01-2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị T, sinh năm 2000. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Bản NL, xã NL, huyện TC, tỉnh SL.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn M, sinh năm 1998. (Vắng mặt)

HKTT: Bản NL, xã NL, huyện TC, tỉnh SL.

Anh M hiện đang chấp hành án tại Trại giam TC.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Quàng Thị T trình bày:

Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 17/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã TCC, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Kể từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lò Văn M nghiện ma túy, gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Lò Văn M đang chấp hành án tại Trại giam TC. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn M.

Về con chung: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M có 01 con chung: Cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò Thị BT.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị T cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai bị đơn anh Lò Văn M trình bày (Có xác nhận của Trại giam TC):

Anh Lò Văn M và chị Quàng Thị T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 17/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã TCC, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Kể từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Anh M nhất trí ly hôn với chị Quàng Thị T.

Về con chung: Anh Lò Văn M và chị Quàng Thị T có 01 con chung: Cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019. Anh M đang chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện nuôi con, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Quàng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Lò Văn M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có xác nhận của Trại giam TC): Anh M giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai.

Biên bản xác minh ngày 23/12/2022 tại chính quyền địa phương: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M chung sống với nhau có nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lò Văn M nghiện ma túy. Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M có 01 con chung. Hiện tại cháu đang sống cùng chị T. Chị T có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định. Chị T có đủ khả năng và điều kiện nuôi con.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại Trại giam TC đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về tình cảm: Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn M.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019 cho chị Quàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Lò Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị T yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn M có hộ khẩu thường trú tại Bản NL, xã NL, huyệ n Thuậ n Châu , tỉnh SL. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SL thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Quàng Thị T, bị đơn anh Lò Văn M vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 17/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã TCC, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Kể từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng anh M và chị T phát sinh mâu thuẫn do anh M nghiện ma túy, gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lò Văn M hiện đang chấp hành án tại Trại giam TC từ năm 2021 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu ly hôn anh Lò Văn M. Anh Lò Văn M nhất trí ly hôn với chị Quàng Thị T.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị T và anh M không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do anh M nghiện ma túy, bỏ bê không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chị T đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh M không nghe dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.

Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh M đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Quàng Thị T ly hôn với anh Lò Văn M.

Về con chung: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn M có 01 con chung là cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019. Hiện tại cháu T đang sống cùng chị T.

Xét thấy: Anh Lò Văn M đang chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện nuôi con. Cháu Lò Thị BT sống cùng chị Quàng Thị T luôn đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và học hành. Chị T có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định. Do đó, cần giao cháu Lò Thị BT cho chị Quàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị T, anh M cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị T là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị T. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị BT, sinh ngày 05/3/2019 cho chị Quàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị T, anh M cam đoan không có nợ chung.

7. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị T. Hoàn trả chị Quàng Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh SL là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0002057, ngày 21 tháng 11 năm 2022.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị T, anh Lò Văn M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ