- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ông Phạm Phú G yêu cầu được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 5 - 2023 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chí Ngãi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Duy.
2. Ông Từ Văn Khánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 51/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Phú G, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
(Ông G có mặt; bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 12 năm 2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Phạm Phú G, trình bày:
Ông Phạm Phú G và bà Nguyễn Thị Thu H sống chung với nhau từ năm 1978 sau đó mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, số 67 ngày 12 tháng 10 năm 2011.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc và bà H đã đi khỏi địa phương từ tháng 10 năm 2015 cho đến nay không có tin tức gì; ông G đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cứ trú; đồng thời, đã yêu cầu và Tòa án tuyên bố mất tích đối với bà H theo Quyết định số 01/2022/QĐST-VDS, ngày 04 tháng 11 năm 2022. Xét thấy, tình cảm giữa hai vợ chồng đã không còn, nên ông G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên: Phạm Phú C, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1979; Phạm Thị Như Q, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1981; Phạm Phú M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1992. Hiện nay, các con đều đã trưởng thành, đã có cuộc sống riêng tư nên khi ly hôn, ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung không có và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H không có văn bản trình bày:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Phú G đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự về “Ly hôn”. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như vắng mặt trong hai lần mở phiên tòa. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H là phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Phạm Phú G và bà Nguyễn Thị Thu H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi số 67 ngày 12 tháng 10 năm 2011. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông G và bà H là hợp pháp, được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bà Nguyễn Thị Thu H đã đi khỏi địa phương từ tháng 10 năm 2015 cho đến nay không có tin tức gì; ông G đã yêu cầu và Tòa án tuyên bố mất tích đối với bà H theo Quyết định số 01/2022/QĐST-VDS, ngày 04 tháng 11 năm 2022. Tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Phạm Phú G được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung:
Vợ chồng ông G và bà H có 03 con chung tên Phạm Phú C, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1979; Phạm Thị Như Q, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1981 và Phạm Phú M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1992. Hiện nay, các con đều đã trưởng thành, đã có cuộc sống riêng ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung:
Ông G trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí:
Ông G là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp tiền án phí quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9; Điều 51; khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Ông Phạm Phú G được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
2. Về án phí: Ông Phạm Phú G được miễn nộp án phí.
3. Quyền kháng cáo: Ông Phạm Phú G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKSND huyện Nghĩa Hành; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Chí Ngãi |