vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Hường. Chị H được ly hôn anh Đoàn Văn V. Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Thành V, sinh ngày 09/12/2007. Cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 13/9/2023"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/9/2023.
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia
đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Đạt, ông Y Mưng Niê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023 tại Hội trường B Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1986 - có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Hưng yên.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn V, sinh năm 1986 - vắng mặt.

Nơi cư trú cuối cùng: Buôn M, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Đoàn Văn V tự nguyện yêu thương nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi và có đăng ký kêt hôn với nhau tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 19/11/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và cùng sinh sống tại buôn M, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng ngày càng trái ngược nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra anh Đoàn Văn V bỏ nhà đi biệt tích, chị H không biết và không còn liên lạc được với anh V, chị H đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả, bạn bè, gia đình của anh V cũng không biết hiện nay anh V đang làm gì, ở đâu. Chị H và anh V đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay và chị H đã cùng con về quê tại xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên sinh sống từ năm 2011 cho đến nay và không có liên lạc gì với anh V. Đến nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị H đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Đoàn Văn V mất tích để làm cơ sở cho việc ly hôn. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-VDS, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã tuyên bố anh Đoàn Văn V mất tích. Nay chị Vũ Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đoàn Văn V theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Đoàn Văn V có 01 con chung là cháu Đoàn Thành V, sinh ngày 09/12/2007. Sau ly hôn, chị Vũ Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cho chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi trước thời điểm xét xử đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật, xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự. Tại phiên tòa HĐXX thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục của phiên tòa sơ thẩm. Đối với những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không tham gia tố tụng được.

Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị H, chị H được ly hôn anh Đoàn Văn V.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Đoàn Thành V, sinh ngày 09/12/2007, cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đoàn Văn V đã bị Tòa án tuyên bố mất tích; căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Thị H, bị đơn anh Đoàn Văn V.

[3] Về yêu cầu của đương sự nhận thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Đoàn Văn V là quan hệ hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 19/11/2007. Theo chị H trình bày vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng ngày càng trái ngược nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra anh V đã bỏ đi biệt tích đến nay chị H vẫn không có tin tức gì của anh V, gia đình và bạn bè của anh V cũng không biết hiện nay anh V làm gì, ở đâu. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Đoàn Văn V mất tích để làm căn cứ giải quyết ly hôn tại Tòa án.

Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-VDS, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã tuyên bố anh Đoàn Văn V mất tích. Căn cứ Điều 51; khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị Vũ Thị H được ly hôn anh Đoàn Văn V.

Về con chung: Chị H và anh V có 01 con chung là cháu Đoàn Thành V, sinh ngày 09/12/2007. Hiện nay, cháu V đang ở với chị H và chị H có nguyện vọng là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành, anh V đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên giao con chung là cháu Đoàn Thành V cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) là đảm bảo quyền lợi của cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng: Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Hường. Chị H được ly hôn anh Đoàn Văn V.

Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Thành V, sinh ngày 09/12/2007. Cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0000491 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt biết được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ