- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận quan hệ vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim T1 với ông Nguyễn Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02-02-2023 “V/v không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Cơ.
2. Ông Lâm Kim Mến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 02-02-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 135/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20-12-2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T1 (Nguyễn Kim T2), sinh năm 1964. Địa chỉ: Số G đường N, ấp V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số G đường N, ấp V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 07/9/2022 và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 09-01-2023 của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 1988 bà T1 và ông P có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hàn gắn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Châu P1, sinh năm 1989, Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1992. Hiện nay 02 người con đã trưởng thành có cuộc sống riêng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Nay bà Nguyễn Thị Kim T1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Nguyễn Văn P.
- Về con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Nguyễn Văn P đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự và đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Nguyễn Văn P. Về con chung đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được triệu tập hợp lệ theo đúng trỉnh tự tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T1 và ông P chung sống với nhau từ năm 1988 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Xét thấy việc bà T1 và ông P đã có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng trong quá trình chung sống ông bà đã không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng trình tự thủ tục và không có giấy tờ chứng minh đã kết hôn, đến nay cuộc sống chung của ông bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, do đó bà T1 có yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa bà với ông P. Căn cứ điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1.
Về con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Do bà T1 trình bày trong thời gian chung sống không có tạo lập tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim T1 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim T1 với ông Nguyễn Văn P.
2. Về con chung: Đã trưởng thành. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim T1 phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005550 ngày 07-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, bà Nguyễn Thị Kim T1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Chi cục THADS huyện Mỹ Xuyên; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Kiều Oanh |