- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính - NKK: Bà Nguyễn Thị M"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HC-PT Ngày: 09/01/2023. V/v Khởi kiện quyết định hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Thúy Bình;
Bà Phan Thị Vân Hương.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 09 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 76/2022/TLPT-HC ngày 22 tháng 3 năm 2022, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12397/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, vụ án có các đương sự sau:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Minh: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn Q, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Minh: Luật sư Nguyễn Như Thái D (vắng mặt) và Luật sư Trương Toàn T (có mặt), Văn phòng Luật sư D thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số X, ngõ Y, đường V, phường H, quận C, thành phố Hà Nội.
2. Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo pháp luật: ông Giang Tuấn A, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Hải T, chưc vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
Địa chỉ: Thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Mạnh T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, người khởi kiện là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Gia đình bà Nguyễn Thị M có thửa đất nông nghiệp chuyên trồng lúa nước diện tích là 273,1m2 tại thửa số 419, tờ bản đồ số 20 tại thôn M, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng nằm trong danh sách bị thu hồi để thực hiện dự án: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với đất trồng lúa giá 39.000 đồng/m2 là quá thấp so với tình hình phát triển kinh tế hiện nay, hơn nữa giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất ở địa bàn xã N là 800 triệu đồng/lô đất, nên so với giá hỗ trợ bồi thường mà bà nhận được là quá thấp. Đồng thời, quá trình thu hồi đất UBND huyện S có nhiều sai phạm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà nên bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính sau:
- Quyết định số 294/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc thu hồi đất công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S.
- Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S.
- Quyết định số 7145/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của Chủ tịch UBND huyện S về việc giải quyết khiếu nại.
Đại diện người bị kiện trình bày:
* Về việc quy hoạch xây dựng chi tiết khu dân cư để đấu giá quyền sử dụng đất ở tại thôn M, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang:
Căn cứ Quyết định số 911/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND huyện S về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới xã N, huyện S giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1891/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND huyện S về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm cụm xã N, huyện S định hướng phát triển đến năm 2020.
Ngày 13/5/2016, UBND huyện S ban hành Quyết định số 199/QĐ-UBND điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C. Mục tiêu chủ yếu là chia lô khu đất dân cư để giao đất ở cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu với tổng diện tích lập quy hoạch là 13.658m2 (đất khu dân cư giao mới 3.642m2, đất dân cư điều chỉnh 1.065m2, đất đường, hành lang đường 5.922m2, đất mương cấp thoát nước 1.207m2, đất hành lang lưới điện 120m2, đất dự trữ phát triển 1.280m2 và đất xây dựng trụ sở cơ quan 602m2). Toàn bộ diện tích đã đấu giá đất nằm trong phạm vi 5.421,7m2 đất thu hồi của 28 hộ gia đình, cá nhân, diện tích này nằm ngoài ranh giới quy hoạch khu tái định cư Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 2C.
Quy hoạch xây dựng khu dân cư mới, sử dụng nguồn vốn ngân sách huyện để thực hiện quy hoạch không liên quan đến dự án khu tái định cư của dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C trước đây (dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C có nguồn gốc của Bộ Giao thông vận tải đã quyết toán xong năm 2016).
Nhưng do UBND huyện S phê duyệt tên công trình trong hồ sơ quy hoạch là điều chỉnh, mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C nên dẫn đến cách hiểu khác nhau, một số hộ dân bị thu hồi đất cho rằng đây là việc tiếp tục thực hiện dự án tái định cư cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C trước đây, nhưng lại tổ chức bán đấu giá, không phải là để giao đất cho các hộ bị di chuyển do nhà nước thu hồi đất phải bố trí tái định cư.
* Về việc thu hồi đất và giải phóng mặt bằng đối với diện tích điều chỉnh mở rộng khu tái định cư:
- Trình tự, thủ tục thu hồi đất, giải phóng mặt bằng:
Căn cứ quy hoạch chi tiết được duyệt, UBND huyện S đã tổ chức thu hồi 5.421,7m2 đất trồng lúa của 28 hộ gia đình đang sử dụng đất tại xã N, huyện S tại Quyết định số 294/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 09/8/2018, với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 1.396.973.000 đồng, trong đó, kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho 28 hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi là 1.363.373.300 đồng.
Về hồ sơ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ công trình xây dựng khu tái định cư công trình điều chỉnh, mở rộng khu tái định cư Quốc lộ 2C, xã N:
+ Trình tự các bước thực hiện: Thực hiện đủ 10 bước theo quy định tại Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang;
+ Thời gian thực hiện từ khi ban hành thông báo thu hồi đất đến khi ban hành Quyết định thu hồi đất đối với đất nông nghiệp: Đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2013 (tối thiểu 90 ngày, thực tế thực hiện là 195 ngày).
+ Công khai thông báo thu hồi đất: Đã thực hiện niêm yết thông báo thu hồi đất tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
+ Thông báo lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường: Đã tổ chức họp, niêm yết và kết thúc niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai và Điều 14 Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
+ Thông báo công khai quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường: Đã tổ chức họp công khai theo quy định tại Điều 19 Quyết định số 05/2015/QĐUBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
Như vậy, trình tự, thủ tục UBND huyện S thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về ý kiến, kiến nghị của hộ dân bị thu hồi đất trong quá trình thực hiện công tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng:
+ Tại các buổi họp công khai lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường ngày 19/4/2018 và biên bản kết thúc công khai ngày 21/5/2018; biên bản công khai quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường ngày 14/8/2018, các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đề nghị được ưu tiên mua 01 lô đất ở quy hoạch không thông qua hình thức đấu giá với mức giá 500.000.000 đồng/lô.
Nội dung này đã được Chủ tịch UBND huyện (Chủ tịch HĐBT huyện S) đã trả lời trực tiếp tại buổi họp ngày 18/01/2019, cụ thể: “Nội dung các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đề nghị được ưu tiên mua 01 lô đất ở quy hoạch không thông qua hình thức đấu giá với mức giá 500.000 đồng/lô là không có căn cứ để giải quyết”.
+ Tại đơn của ông Hoàng Văn L và các hộ có đất bị thu hồi có nhiều nội dung kiến nghị liên quan đến việc thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư tại thôn M, xã N, cụ thể:
Về nội dung giá bồi thường đất trồng lúa 39.000 đồng/m2 là thấp so với tình hình phát triển kinh tế xã hội hiện nay; phê duyệt giá khởi điểm đấu giá lên 800.000.000 đồng/lô (giá đền bù cho những hộ mất hết ruộng canh tác quá thấp mà giá nhà nước chia lô bán đất nền quá cao); dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 2, ngân sách thu về từ bán đấu giá sử dụng vào đâu; nguyện vọng của 21 hộ dân bị thu hồi hết ruộng đợt này xem xét tạo điều kiện được ưu tiên mua lại một lô tại vị trí đất bị thu hồi với giá thấp nhất, không theo giá sàn, không phải thông qua đấu giá, tạo điều kiện cho những gia đình hoàn cảnh khó khăn có cơ hội được ổn định và cải thiện cuộc sống theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013; nhiều việc làm có nhiều nghi vấn, sai quy trình về pháp luật khiếu nại của Thanh tra huyện S: Những nội dung này đã được UBND huyện S trả lời các hộ dân tại Văn bản số 768/UBND-TNMT ngày 22/4/2019, Văn bản số 2420/UBND-TNMT ngày 22/10/2019 và tiếp tục được làm rõ tại Quyết định số 7145/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND huyện S.
Về nội dung chưa xác định làm rõ hành vi lập khống biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện S; xác minh, làm rõ chữ ký của đại diện 21 hộ dân trong biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch công trình, cho rằng lập khống biên bản và giả mạo chữ ký: Quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ dự án, UBND huyện S đã công khai phương án bồi thường, hỗ trợ đến người bị thu hồi đất theo quy định, thời điểm kết thúc công khai phương án các hộ bị thu hồi đất không có ý kiến, kiến nghị. Như vậy, quyền lợi của nhân dân không bị ảnh hưởng nên việc đề nghị “làm rõ hành vi lập khống biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện S; xác minh, làm rõ chữ ký của đại diện 21 hộ dân trong biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch công trình, cho rằng lập khống biên bản và giả mạo chữ ký” là không có căn cứ để giải quyết.
- Việc thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:
Căn cứ điểm d Khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai quy định: “d) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì UBND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.
Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật này”.
Tại các biên bản tuyên truyền vận động (Biên bản ngày 10/10/2018, ngày 24/10/2018, ngày 30/10/2018) của UBND xã N, Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc xã N và các thành phần có liên quan đến từng hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi là đối tượng phải cưỡng chế, Tổ công tác tuyên truyền đã phân tích, giải thích, vận động các hộ gia đình thực hiện theo chế độ chính sách hiện hành. Tuy nhiên, các hộ có đất thu hồi không nhất trí. Căn cứ quy định của pháp luật nêu trên, ngày 25/3/2019, UBND huyện S ban hành Quyết định số 1519/QĐ-UBND tổ chức cưỡng chế thu hồi đất công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, xã N, huyện S và huyện đã tiếp tục tổ chức tuyên truyền thể hiện tại các biên bản từ ngày 02/4/2019 đến ngày 08/4/2019 nhưng các hộ vẫn không nhất trí.
Như vậy, UBND huyện và UBND xã N đã thực hiện việc tuyên truyền, vận động đối với các hộ có đất bị thu hồi đảm bảo theo quy định của pháp luật.
* Về việc tổ chức thực hiện đấu giá đất ở tại thôn M, xã N:
Ngày 16/7/2019, UBND huyện S ban hành Phương án số 260/PA-UBND để thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Kết quả đã thực hiện đấu giá 24 lô đất (từ lô 5 đến lô 28), trong đó đấu giá thành 23/24 lô, với số tiền là 28.336.653.600 đồng (tiền thu nộp vào ngân sách huyện).
Trình tự, thủ tục và nội dung thực hiện thì Thanh tra tỉnh đã kiểm tra đánh giá là cơ bản đúng quy định của pháp luật và báo cáo UBND tỉnh tại Văn bản số 219/BC-TTr ngày 23/12/2019 về kết quả kiểm tra công tác tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện S năm 2019.
Như vậy, UBND huyện S đã tổ chức thực hiện thủ tục thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, cưỡng chế thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch, đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư tại thôn M, xã N, huyện S đảm bảo theo quy định của pháp luật hiện hành. Quá trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ có một số ý kiến, kiến nghị, phản ánh của nhân dân đã được UBND huyện S làm rõ và trả lời nhân dân. Đồng thời UBND huyện S đã chỉ đạo các cơ quan tổ chức nhiều lần tuyên truyền, giải thích vận động hộ dân có đất bị thu hồi bàn giao mặt bằng cho nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc đấu giá quyền sử dụng đất ở thực hiện theo quy định, đảm bảo công khai, minh bạch, đáp ứng nhu cầu đất ở của tổ chức, cá nhân, tăng nguồn thu tiền sử dụng đất cho ngân sách huyện.
Ngoài ra, căn cứ quyết định số 925/QĐ-CT ngày 26/7/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng công trình hệ thống cơ sở hạ tầng khu tái định cư Quốc lộ 2C, huyện S, UBND huyện S đã tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tại Quyết định số 7445/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 trong đó tên của đồ án quy hoạch là: Quy hoạch khu tái định cư dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình thực hiện đầu tư xây dựng đối với công tác quy hoạch có 02 lần được UBND huyện điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với tình hình thực tế (lần 1: Quyết định số 1393/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND huyện S; Lần 2: Quyết định số 199/QĐ-UBND ngày 13/5/2016). Cả 2 lần điều chỉnh quy hoạch vẫn giữ nguyên (không thay đổi) tên của đồ án quy hoạch là: Quy hoạch khu tái định cư dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Đối với dự án đầu tư xây dựng: Có 03 dự án riêng biệt được UBND huyện quyết định đầu tư (Dự án thứ nhất tại Quyết định số 2558/QĐ-UBND ngày 22/8/2013; Dự án thứ hai tại Quyết định số 2887/QĐ-UBND ngày 27/5/2016; Dự án thứ ba tại quyết định số 214/QĐ-UBND ngày 26/01/2018) cả 03 dự án trên đều được UBND huyện triển khai theo đúng quy định của Nhà nước hiện hành.
Quá trình kiểm kê đất đai, tài sản, cây trồng tại thực địa thành phần gồm có Cán bộ của Chi nhánh phát triển quỹ đất, đại diện chủ đầu tư, đại diện UBND xã N, công chức địa chính xã, trưởng thôn, đại diện những người có đất bị thu hồi và các hộ gia đình có đất đai, tài sản, cây cối nằm trong phạm vi quy hoạch công trình cùng trực tiếp kiểm tra, đối chiếu thực tế thửa đất, tài sản cây trồng trên đất với trích lục bản đồ thu hồi đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất để xác định diện tích, loại đất thu hồi, tài sản cây trồng trên đất của từng chủ sử dụng; biên bản kiểm kê được lập thành 2 bản có chữ ký xác nhận từng trang và công khai kết quả kiểm kê đến từng hộ gia đình (gia đình lưu giữ 1 bản). Trong suốt quá trình kiểm kê, họp xét của Hội đồng bồi thường và thời gian công khai lấy ý kiến dự thảo phương án bồi thường, các hộ gia đình đều không có ý kiến vướng mắc gì. Về nội dung xác minh, làm rõ chữ ký của các hộ gia đình trong biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch đã được cơ quan Thanh tra huyện phối hợp với các cơ quan liên quan xác minh, làm rõ tại biên bản làm việc ngày 20/9/2019.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, UBND xã N trình bày: UBND xã N đã tham mưu cho UBND huyện S và thực hiện các quy định về thu hồi đất đúng quy định của pháp luật. UBND xã N không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, không có yêu cầu độc lập và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Ngày 10/8/2021, bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị trưng cầu giám định đối với chữ ký “M” và chữ viết “Nguyễn Thị M” tại biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch Công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang ngày 09/3/2018. Tại quyết định số 05/2021/QĐ-TCGĐ ngày 20/8/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang giám định chữ ký, chữ viết của bà Nguyễn Thị M tại biên bản kiểm kê.
Ngày 30/8/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang có kết luận giám định số 772/GĐ-KTHS, nội dung kết luận về đối tượng giám định:
“Chữ ký (dạng chữ viết) “M”, chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” và chữ ký (dạng chữ viết) “M” cuối các trang trên “BIÊN BẢN KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT QUY HOẠCH Công trình: “Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S” đề ngày 09/3/2018 (ký hiệu A1) với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị M trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải do cùng một người viết.
Chữ ký (dạng chữ viết) “M”, chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” và chữ ký (dạng chữ viết) “M” cuối các trang trên “BIÊN BẢN KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT QUY HOẠCH Công trình: “Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S” đề ngày 09/3/2018 (ký hiệu A1) là chữ ký, chữ viết trực tiếp.
Ngày 06/9/2021, bà Nguyễn Thị M có Đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thu hồi Quyết định trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang số 05/2021/QĐ-TCGD ngày 20/8/2021, đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định tại cơ quan giám định của Bộ Quốc phòng theo yêu cầu của bà. Ngày 06/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã trả lời không chấp nhận đề nghị của bà M.
Ngày 09/9/2021, Ủy ban nhân dân huyện S có văn bản số 2263/UBND-PTQĐ gửi Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải trình kết luận giám định với nội dung: Các chữ ký tại góc phía dưới bên phải các trang 1, 2, 3 và chữ ký, chữ viết ghi họ tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” tại trang 4 Biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch số 05, đề ngày 09/3/2018 (ký hiệu A1) là chữ ký, chữ viết trực tiếp. Do ông Nguyễn Quang H là người được bà Nguyễn Thị M (ông Nguyễn Quang H là em ruột của bà Nguyễn Thị M) nhờ tham gia kiểm kê và trực tiếp ký tại góc phía dưới bên phải các trang 1, 2, 3 và chữ ký, chữ viết ghi họ tên “Nguyễn Thị M” dưới mục CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” tại trang 4 BIÊN BẢN KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT QUY HOẠCH số 05, ngày 09/3/2018.
Ngày 10/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 09/2021/QĐ-TCGĐ. Ngày 13/9/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang có kết luận giám định số 819/GĐ-KTHS với nội dung:
Chữ ký (dạng chữ viết) “M”, chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT”; chữ ký (dạng chữ viết) “M” tại cuối trang 3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 với chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT” trên mẫu so sánh ký hiệu M1; chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H trên mẫu so sánh ký hiệu M2, M3, M4 là do cùng một người viết.
Chữ ký (dạng chữ viết) “M” tại cuối trang 1,2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 với chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT” trên mẫu so sánh ký hiệu M1; chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H trên mẫu so sánh ký hiệu M2, M3, M4 không phải do cùng một người viết.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 29; Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116; Điều 191; Điều 194, Điều 206, Điều 344, Điều 345, Điều 348, Điều 344, Điều 345 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 62, 63, 66, 67, 69, 74, 75 và Điều 118 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13; Điều 14, Điều 18; Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật Khiếu nại năm 2011; Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc:
- Tuyên hủy Quyết định số 294/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc thu hồi đất công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S.
- Tuyên hủy Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S.
- Tuyên hủy Quyết định số 7145/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của Chủ tịch UBND huyện Svề việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Văn L, thôn M, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí giám đinh, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/10/2021, Tòa án nhận được đơn kháng cáo ghi ngày 06/10/2021 của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị M, đề nghị hủy án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, sửa án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng quá trình thực hiện việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ là có vi phạm các quy định của pháp luật, trong đó có việc người bị thu hồi đất không nhận được thông báo thu hồi đất; thông báo thu hồi đất có trong hồ sơ vụ án có địa điểm thu hồi không phải ở thôn M nơi đương sự có đất bị thu hồi. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Đại diệnViện kiểm sát tham gia phiên tòa sau khi đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm đã khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
NH N Đ NH CỦA A N
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Ngày 04/10/2021, Tòa án cấp sơ thẩm gửi bản án cho người khởi kiện (phiên tòa sơ thẩm xét xử vắng mặt người khởi kiện); ngày 11/10/2021, Tòa án nhận được đơn kháng cáo ghi ngày 06/10/2021 của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị M đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang là trong thời hạn nên được xem xét theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vắng mặt, nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt; người bị kiện vắng mặt và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về đối tượng và thời hiệu khởi kiện:
Ngày 31/12/2019, Chủ tịch UBND huyện S ban hành Quyết định số 7145/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Văn L, thôn M, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (trong quyết định thể hiện ông Hoàng Văn L đại diện cho 21 hộ trong đó có hộ bà Nguyễn Thị M) là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Ngày 18/8/2020, bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính nêu trên là đúng đối tượng theo quy định tại Điều 3 và trong thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Các Quyết định số 294/QĐ-UBND về việc thu hồi đất công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S; Quyết định số 290/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S, cùng ngày 09/8/2018; Quyết định số 1519/QĐ-UBND ngày 25/3/2019 về việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất đều của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang là các quyết định hành chính liên quan, nên cần được xem xét trong cùng vụ án theo quy định tại Điều 193 Luật tố tụng hành chính.
[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị M:
[3.1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính:
[3.1.1] Đối với Quyết định số 290/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 294/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cùng ngày 09/8/2018:
Căn cứ Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 01/9/2017 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2017 các huyện, thành phố, trong đó có dự án mở rộng khu tái định cư Quốc lộ 2C đoạn xã N; Nghị quyết số 11/NQ-HĐND ngày 26/7/2017 Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang khóa VXIII (kỳ họp thứ 4) bổ sung danh mục công trình, dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng năm 2017 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, trong đó có công trình Mở rộng khu tái định cư Quốc lộ 2C đoạn xã N; Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 08/5/2018 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất làm căn cứ tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng một số công trình trên địa bàn huyện S.
Ngày 13/02/2018, UBND huyện S đã ban hành Quyết định số 27/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát đo đạc kiểm đếm công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S. Ngày 28/02/2018, UBND huyện S ban hành Thông báo số 17/TB-UBND Thông báo thu hồi đất công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S (có danh sách chủ sử dụng đất và thông tin dự kiến thu hồi kèm theo, trong đó có hộ bà Nguyễn Thị M). Ngày 01/3/2018, Chi nhánh phát triển quỹ đất huyện S cùng các cơ quan, đơn vị xác định mốc giới, phạm vi giải phóng mặt bằng xây dựng công trình. Ngày 02/3/2018, UBND huyện S ban hành Quyết định số 41/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S. Ngày 05/3/2018, UBND huyện S đã tiến hành công khai thông báo thu hồi đất, triển khai các quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 2C xã N, huyện S. Ngày 09/3/2018, UBND huyện đã tiến hành kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch của hộ bà Nguyễn Thị M. Ngày 05/4/2018, Hội đồng bồi thường tổ chức họp xét bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất trong đó có hộ bà Nguyễn Thị M. Ngày 19/4/2018, UBND huyện S đã công khai lấy ý kiến dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình: Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S (niêm yết công khai dự thảo Phương án bồi thường từ ngày 19/4/2018 đến ngày 16/5/2018), có 28 hộ cá nhân gia đình nhất trí.
Sau khi Phòng Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình số 143/TTr-TNMT về việc đề nghị thu hồi đất và Tờ trình số 144/TTr-TNMT về việc đề nghị phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư Công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S, cùng ngày 06/8/2018, Ủy ban nhân dân huyện S đã thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất và Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các hộ dân trong đó có hộ bà Nguyễn Thị M đúng theo quy định tại các Điều 61, 62, 63, 66, 67, 69, 74 và Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Điều 7, Điều 14, Điều 19 Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
Như vậy, UBND huyện S ban hành các Quyết định số 290/QĐ-UBND; Quyết định số 294/QĐ-UBND cùng ngày 09/8/2018 là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
[3.1.2] Đối với Quyết định số 1519/QĐ-UBND ngày 25/3/2019 về việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất:
Sau khi có các quyết định về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tại định cư, nhưng các hộ dân trong đó có hộ bà M bị thu hồi đất nông nghiệp không nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng. Trong các ngày 10/10/2018, ngày 24/10/2018, ngày 30/10/2018, UBND huyện S, UBND xã N đã tiến hành phân tích, giải thích, vận động các hộ gia đình thực hiện theo chế độ chính sách hiện hành, nhưng các hộ có đất thu hồi trong đó có hộ bà M không nhất trí. Ngày 25/3/2019, UBND huyện S ban hành Quyết định số 1519/QĐ-UBND tổ chức cưỡng chế thu hồi đất công trình Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, xã N, huyện S là đúng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai; Điều 21 Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
[3.1.3] Đối với Quyết định số 7145/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của Chủ tịch UBND huyện S về việc giải quyết khiếu nại:
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của các hộ dân trong đó có bà M (ông Hoàng Văn L và ông Trần Văn C đại diện 20 hộ dân khiếu nại), Chủ tịch UBND huyện S đã thành lập Đoàn xác minh để tiến hành xác minh nội dung khiếu nại, tổ chức đối thoại theo quy định. Ngày 31/12/2019, Chủ tịch UBND huyện S ban hành Quyết định số 7145/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoàng Văn L, thôn M, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (người đại diện của 20 hộ dân trong đó có hộ bà Nguyễn Thị M) và Quyết định số 811/QĐ-UBND ngày 20/02/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định giải quyết khiếu nại số 7145/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31 Luật Khiếu nại năm 2011.
[3.2] Về nội dung:
Căn cứ quyết định số 925/QĐ-CT ngày 26/7/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng công trình hệ thống cơ sở hạ tầng khu tái định cư Quốc lộ 2C, huyện S, ngày 31/12/2010 UBND huyện S đã ban hành Quyết định số 7445/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch và dự toán khảo sát, thiết kế quy hoạch khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, với tính chất là khu dân cư nông thôn, phát triển theo xu hướng đổi mới, được đầu tư và quản lý theo quy hoạch với đầy đủ các hạng mục công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ nhân dân. Quá trình thực hiện, việc quy hoạch có điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với tình hình thực tế, nhưng không thay đổi tên và tính chất của việc quy hoạch khu tái định cư dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Do đó dự án này được xác định là vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Theo Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 08/5/2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất làm căn cứ tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng một số công trình trên địa bàn huyện Sơn Dương, giá đất làm căn cứ tính tiền bồi thường theo Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 21/12/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc ban hành quy định phân khu vực, phân loại đường phố và phân vị trí đất năm 2015 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thì đất trồng cây hàng năm khu vực II, vị trí 1 là 39.000 đồng/m2. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “...Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Theo đó, hộ gia đình bà Nguyễn Thị M được bồi thường về đất là 10.650.900 đồng; về cây trồng, hoa màu, vật nuôi là 1.201.640 đồng; về hỗ trợ chuyển đổi nghề cho hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp là 53.254.500 đồng, tổng cộng là 65.107.040 đồng là đúng quy định của pháp luật. Đối với đất bị thu hồi thì hộ bà Minh bị thu hồi 273,1m2 (trong tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng là 13.577,8m2 đất), tỷ lệ giữa đất nông nghiệp bị thu hồi và đất nông nghiệp đang sử dụng là 02%, không bị thu hồi hết đất nông nghiệp, không bị thu hồi đất ở.
Như vậy, UBND huyện S áp dụng các chính sách bồi thường đối với hộ bà Minh là phù hợp với quy định tại Điều 75; Điều 90 Luật Đất đai năm 2013, Điều 13 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Điều 11, Điều 13 Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Việc UBND huyện S tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 118 Luật Đất đai năm 2013, Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị M và người đại diện theo ủy quyền của bà Minh cho rằng việc kiểm kê đất và tài sản trên đất quy hoạch bà không có mặt và không được ký vào biên bản kiểm kê đất, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Việc kiểm kê đất và tài sản trên đất quy hoạch ngày 09/3/2018 đối với hộ bà Nguyễn Thị M, UBND huyện S đã thực hiện đúng quy định của Luất đất đai 2013 và tại khoản 1.6 Điều 9 của Quyết định số 05/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang. Tại Kết luận giám định số 772/GĐ-KTHS ngày 30/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang có nội dung “Chữ ký (dạng chữ viết) “M”, chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” và chữ ký (dạng chữ viết) “minh” cuối các trang trên “BIÊN BẢN KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT QUY HOẠCH Công trình: “Hạ tầng kỹ thuật điều chỉnh và mở rộng khu tái định cư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C xã N, huyện S” đề ngày 09/3/2018 (ký hiệu A1) với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị M trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải do cùng một người viết. Tại kết luận giám định số 819/GĐ-KTHS ngày 13/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang khẳng định “Chữ ký (dạng chữ viết) “M”, chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT”; chữ ký (dạng chữ viết) “minh” tại cuối trang 3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 với chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT” trên mẫu so sánh ký hiệu M1; chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H trên mẫu so sánh ký hiệu M2, M3, M4 là do cùng một người viết. Ngày 09/9/2021, người bị kiện UBND huyện S có văn bản giải trình về kết luận giám định với nội dung: Các chữ ký tại góc phía dưới bên phải các trang 1, 2, 3 và chữ ký, chữ viết ghi họ tên “Nguyễn Thị M” dưới mục “CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT” tại trang 4 Biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên đất quy hoạch đề ngày 09/3/2018 là do ông Nguyễn Quang H, em trai ruột bà Nguyễn Thị M được bà M nhờ tham gia kiểm kê và ký vào biên bản. Tòa án đã tiến hành xác minh thấy rằng bà Nguyễn Thị M là chị gái ông Nguyễn Quang H, nên việc bà M nhờ ông H tham gia kiểm kê và ký vào biên bản kiểm kê là có cơ sở. Hơn nữa, bà M đã được nhận Quyết định 294; Quyết định 290, trong quyết định thu hồi đất đã thể hiện số thửa đất, diện tích đất thu hồi và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình. Đối với kết luận giám định số 772 và số 819/GĐ-KTHS, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đã kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết) “M” tại cuối trang 1, 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 với chữ viết đứng tên Nguyễn Quang Huyên dưới mục “CHỦ SỦ DỤNG ĐẤT” trên mẫu so sánh ký hiệu M1; chữ viết đứng tên Nguyễn Quang H trên mẫu so sánh ký hiệu M2, M3, M4 không phải do cùng một người viết. Tuy nhiên, các nội dung trong biên bản kiểm kê đất đã đảm bảo đúng, đủ thông tin số thửa đất, số diện tích đất thu hồi, tài sản trên đất, điều tra nhân khẩu và nội dung liên quan để xem xét các chính sách hỗ trợ đối với hộ bà Nguyễn Thị M theo quy định của pháp luật, không có sự chênh lệch tăng, giảm số liệu không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà M.
Nhận định trên đây của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp và có căn cứ.
[3.3] Từ những nhận định trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, các bên đương sự không cung cấp thêm tình tiết mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
QUYẾ Đ NH
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0005160 ngày 13/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án./.
C C HẨM PH N
HẨM PH N - CHỦ ỌA PHIÊN A Lê hị húy Bình Phan hị Vân Hương
Hồ Sỹ Hưng
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HCTP, HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Hưng |