vanban.org

Bản án 14/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Trần Văn S. Buộc ông Trần Văn S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng các khoản tiền còn nợ tính đến ngày 13/01/2023, cụ thể như sau: Tiền vay vốn là 7.500.000 đồng và tiền lãi là 18.4… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/DS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Thanh Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Hoàng Giang.

2. Ông Danh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thuý An - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng A.

Địa chỉ: Số 169, phố L, phường H, quận M, Thành phố Hà Nội.

1.1. Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Dương Quyết T. Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng A.

1.2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm: 1980. Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện R (văn bản ủy quyền số: 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn R, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

1.3. Người được ủy quyền lại của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1980. Chức vụ: Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện R (văn bản ủy quyền số: 20/QĐ-NHCS ngày 04/02/2020, có mặt).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn R, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm: 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2021 và tại phiên toà ông Nguyễn Thanh H1 là người được ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/6/2008, Ngân hàng Chính sách xã hội - phòng giao dịch huyện R cho ông Trần Văn S vay tiền, như sau: Số tiền cho vay là 25.000.000 đồng; chương trình cho vay đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn; thời hạn vay là 12 tháng (kể từ ngày giải ngân ngày 11/6/2008, trả nợ ngày 13/6/2009), kỳ hạn trả nợ gốc cuối kỳ, trả tiền lãi theo tháng; tiền lãi thoả thuận theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (gọi tắt là hợp đồng) là 10,8%/ năm, lãi quá hạn là 14,04%/ năm.

Sau đó, Ngân hàng đồng ý gia hạn thời hạn trả nợ cho ông S đến ngày 13/6/2010, khi đến hạn thanh toán nợ ông S không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn và phối hợp với Tổ tiết kiệm và vay vốn, tổ chức chính trị

- xã hội nhận uỷ thác và chính quyền địa phương vận động, yêu cầu ông S trả nợ nhiều lần, ông S hứa hẹn, cam kết trả nợ nhưng chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ (ngày 31/01/2014, trả tiền lãi là 9.502.500 đồng).

Sau khi xem xét về điều kiện, hoàn cảnh gia đình của ông S, Ngân hàng chấp nhận khoanh nợ đối với khoản vay của ông S, kể từ ngày 05/6/2014 đến ngày 05/6/2019 (theo quyết định số: 59/QĐ-HĐQT ngày 27/7/2015 của Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội), khi hết thời hạn khoanh nợ ông S chỉ thanh toán một phần nợ, như sau:

Ngày 13/4/2016 trả tiền lãi là 500.000 đồng, ngày 12/11/2019 trả tiền vay vốn là 5.000.000 đồng, ngày 16/01/2021 trả tiền lãi là 1.000.000 đồng, ngày 16/12/2021 trả tiền lãi là 1.000.000 đồng, ngày 16/01/2022 trả tiền lãi là 70.777 đồng.

Như vậy, ông S vẫn còn nợ Ngân hàng tiền vay vốn là 20.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh, do ông S không có thiện chí thanh toán nợ nên Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu Tòa án giải quyết:

Theo đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu ông S phải trả tiền vay vốn còn nợ là 20.000.000 đồng và tiền lãi. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án ông S đã trả cho Ngân hàng tiền vay vốn tổng cộng là 12.500.000 đồng, còn nợ là 7.500.000 đồng. Vì vậy, tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu ông S phải có nghĩa vụ trả tiền vay vốn còn nợ là 7.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 18.414.748 đồng, tổng cộng là 25.914.748 đồng. Ngoài ra, yêu cầu ông S tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận, kể từ ngày 14/01/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Ông Trần Văn S là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Toà án xem xét.

Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vẫn còn vi phạm về thời hạn xét xử theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị khắc phục.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký và của nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với ông S là bị đơn chưa thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và hợp đồng vay đã quá hạn thanh toán nợ nhưng đến nay ông S vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ là vi phạm về hợp đồng vay và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Ngân hàng xác định quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông S đã thanh toán được một phần nợ (trong đó, trả tiền vốn vay tổng cộng là 17.500.000 đồng, trả tiền lãi tổng cộng là 12.073.277 đồng) và xác định ông S còn nợ tiền vay vốn là 7.500.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 18.414.748 đồng, tổng cộng là 25.914.748 đồng nhưng ông S không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện ông S là hoàn toàn có cơ sở, căn cứ Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông S phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tiền vay vốn còn nợ là 7.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 18.414.748 đồng, tổng cộng là 25.914.748 đồng. Ngoài ra, ông S tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận, kể từ ngày 14/01/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Về án phí: Đề nghị buộc ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu ông S phải trả tiền vay còn nợ, ông S vay với tư cách cá nhân, không có đăng ký kinh doanh, chương trình cho vay đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông S là bị đơn có nơi cư trú tại huyện R, tỉnh Kiên Giang. Căn vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S trực tiếp nhận. Tuy nhiên, ông S không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải, phiên tòa là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Mặt khác, ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông S.

. Về nội dung vụ án:

Ngày 11/6/2008, Ngân hàng Chính sách xã hội - phòng giao dịch huyện R đã duyệt, giải ngân cho ông S vay số tiền là 25.000.000 đồng, theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông S (gọi tắt là hợp đồng). Như vậy, có căn cứ xác định hai bên xác lập hợp đồng vay tài sản với nhau là sự thật và việc ký kết hợp đồng vay tài sản của hai bên hoàn toàn tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, các bên phải thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo thỏa thuận trong hợp đồng thời hạn vay là 12 tháng, kể từ ngày giải ngân (ngày 11/6/2008) đến ngày 13/6/2009, trả tiền vốn vay cuối kỳ, trả tiền lãi theo tháng. Sau đó, được Ngân hàng gia hạn thời hạn trả nợ đến ngày 13/6/2010, tiền lãi thỏa thuận là 10,8%/ năm, tiền lãi quá hạn là 14,04%/ năm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản, khi đến thời hạn thanh toán nợ (ngày 13/6/2010) và hết thời hạn khoanh nợ (kể từ ngày 05/6/2014 đến ngày 05/6/2019), ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận cho Ngân hàng là vi phạm về hợp đồng vay tài sản và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Tại phiên tòa, người được ủy quyền lại của nguyên đơn xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông S đã thanh toán được một phần nghĩa vụ tổng cộng là 29.573.277 đồng (trong đó, ngày 31/01/2014 trả tiền lãi là 9.502.500 đồng, ngày 13/4/2016 trả tiền lãi là 500.000 đồng, ngày 12/11/2019 trả tiền vay vốn là 5.000.000 đồng, ngày 16/01/2021 trả tiền lãi là 1.000.000 đồng, ngày 16/12/2021 trả tiền lãi là 1.000.000 đồng, ngày 16/01/2022 trả tiền lãi là 70.777 đồng, ngày 22/8/2022 trả tiền vốn vay là 7.500.000 đồng và ngày 19/9/2022 trả tiền vốn vay là 5.000.000 đồng) và xác định ông S còn nợ tiền vay vốn là 7.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 18.414.748 đồng nhưng ông S không có ý kiến phản đối.

Cho nên, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S phải trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ là có cơ sở để chấp nhận. Về tiền lãi sau khi xem xét bảng kê tiền lãi (tóm tắt sao kê) ngày 13/01/2023 do Ngân hàng cung cấp tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với sự thoả thuận giữa hai bên và phù hợp theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.

Từ những nhận định và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông S, buộc ông S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền vay vốn còn nợ là 7.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 18.414.748 đồng, tổng cộng là 25.914.748 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/01/2023), ông S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán dứt nợ.

. Về án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngân hàng A khởi kiện vụ án thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí.

Ông Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là: 25.914.748 đồng x 5% = 1.295.737 đồng, tính tròn là 1.296.000 đồng.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, khoản 5 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005;

Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng;

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Trần Văn S. Buộc ông Trần Văn S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng các khoản tiền còn nợ tính đến ngày 13/01/2023, cụ thể như sau:

Tiền vay vốn là 7.500.000 đồng và tiền lãi là 18.414.748 đồng, tổng cộng là 25.914.748 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm mười bốn nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/01/2023), ông S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (gọi tắt là hợp đồng) cho đến khi thanh toán dứt nợ.

2. Về án phí: Ông Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.296.000 đồng (một triệu hai trăm chín mươi S nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 13/01/2023); ông Trần Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ