- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại sức khỏe"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh V đối với ông Chu Hưng L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/DS-ST Ngày: 05-5-2023 V/v “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại về sức khỏe” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Việt Hồng Phượng
2. Ông Phan Văn Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Nguyễn Minh Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2022, về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại về sức khỏe” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh V, sinh năm 1979;
Địa chỉ: số B L, phường M, thành phố L, An Giang.
- Bị đơn: Ông Chu Hưng L, sinh năm 1987;
Cư trú: Chùa T4, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 6/3/2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh V trình bày: Trước đây bà có làm công quả tại chùa T4 tại thị trấn A, sau đó bà đi đến để lễ Phật, nhưng ông L là đệ tử trong chùa đã ngăn cản, lôi kéo không cho bà vào chùa lễ Phật, cúng bái thể hiện niềm tôn kính Tam Bảo, lôi kéo xúc phạm phụ nữ, phát ngôn thiếu lịch sự, xua đuổi bà lên chùa T5, lấy lễ vậy hương hoa bà dâng cúng Phật bỏ ra ngoài cổng chùa, còn lôi kéo làm bà bị lật sơ mi cổ chân, làm thương tật và gây tổn hại đến sức khỏe của bà. Bà đã phải đi khám và điều trị tốn các khoản chi phí tổng cộng là 2.270.000 đồng, trừ lại số tiền anh L đã đưa cho bà là 200.000 đồng, còn lại số tiền là 2.070.000 đồng. Nay bà V yêu cầu anh Chu Hưng L bồi thường cho bà số tiền, tổng cộng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để chị tiếp tục chữa bệnh, trong đó gồm các chi phí bà đã chi trong quá trình điều trị chân bị tổn thương gồm:
- Xe đầu chở vào trong Đất T (A, C) cho Thầy T1 sửa bó thuốc ngải do lật sơ mi cổ chân: 100.000 đồng
- Trả tiền thuốc cho T2 chữa bệnh: 50.000đồng
- Mua thuốc giảm đau, dầu nóng T, rượu, gừng để bó thêm, ăn cơm mua nước uống lúc bệnh trong 2-3 ngày chân bị đau: 200.000 đồng
- Chụp hình X. Q ở L (xe đi về L - C trong ngày) do Bác sĩ Đinh Xuân T3 chụp X. Quang: 320.000 đồng
- Mua thuốc uống 05 ngày ở Bác sĩ Chương: 100.000 đồng
- Bồi thường ăn uống trong 05 ngày uống thuốc, xe đầu đi lại khi tới chùa trong 05 ngày từ L lên C để kêu ông L trả lại tiền thuốc: 1.000.000 đồng
- Ngày 12/6/2020, bà tiếp tục đi tái khám, chi phí xe cộ ăn uống, photo giấy tờ: 500.000đồng. Tổng cộng: 2.270.000đồng, ngày 12/6/202, ông L có đưa bà: 200.000 đồng; Còn lại số tiền: 2.070.000đồng.
Hiện nay thương tật do ông L gây ra, làm chân trái của bà không được bình thường như trước. Do vậy, bà cần tiếp tục điều trị để đôi chân hoàn toàn được bình phục, với chi phí là 17.930.000 đồng. Nay bà yêu cầu ông Chu Hưng L bồi thường cho bà số tiền tổng cộng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Tất cả các khoản chi phí kể trên bà đều không có hóa đơn, chứng từ hay chứng cứ gì để chứng minh. Bà xác định bà cũng không còn chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Phiếu chiếu/Chụp X -Quang ngày 12/6/2020 tại Trung tâm Y tế thành phố L; Phiếu chụp X Quang ngày 27/3/2020 tại Phòng chụp X - Bác sĩ Đinh Xuân T3.
Bị đơn ông Chu Hưng L có ý kiến tại Bản ghi ý kiến ngày 01/7/2022 và và Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/3/2023:
Ông và bà V không có mối quan hệ gì hay mâu thuẫn gì với nhau. Do trước đây bà V có đến chùa để lễ phật. Tuy nhiên, sau đó thì bà V thường có hành vi không hay làm ảnh hưởng đến các phật tử làm công quả tại chùa và các sư tăng trong chùa. Sau nhiều lần mời bà V ra khỏi chùa sau khi lễ phật nhưng bà V kiên quyết không ra khỏi chùa mà tiếp tục có lời nói không hay đến các phật tử trong chùa. Do vậy ông có nắm tay kéo bà V ra khỏi cổng chùa, lúc này bà V không bị say xát hay té ngã gì cả. Đến chiều cùng ngày bà V có lại chùa và xin tiền ông do bà đã đi chụp X Q1 và mua thuốc, nhưng thiếu tiền mua thuốc uống. Thấy vậy ông đã cho bà V số tiền 200.000đ và nói với bà V: “bà xin thì tôi cho để bà không gây rối nữa, chứ không phải lỗi của tôi”, thì bà V đồng ý.
Qua đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà V thì ông không đồng ý. Đối với số tiền 200.000đồng ông đã đưa cho bà V thì ông xác định không có yêu cầu bà V trả lại và không tranh chấp.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn bà Hồ Thanh V trình bày: Vẫn giữa yêu cầu khởi kiện đối với ông Chu Hưng L. Cụ thể: yêu cầu ông Chu Hưng L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà tổng số tiền 20.000.000đồng.
- Bị đơn ông Chu Hưng L có đơn xin vắng mặt tại phiên xét xử.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Do nguyên đơn bà V có đến chùa T4, sau đó có xảy ra cự cãi với ông Chu Hưng L là sư trong chùa, bà V cho rằng ông L đã lôi kéo làm bà bị lật sơ mi cổ chân nên bà khởi kiện yêu cầu ông L bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm là 20.000.000 đồng bao gồm các chi phí bà đã điều trị và tiền tiếp tục điều trị trong thời gian tới. Tuy nhiên, quá trình giải quyết bà V không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà bị tổn thương cũng như các hóa đơn chứng từ chứng minh việc điều trị. Vì vậy, yêu cầu của bà là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà V. Bà V thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Hồ Thị Thanh V yêu cầu ông L bồi thường thiệt hại về sức khỏe được quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX xác định quan hệ tranh chấp “Bồi thường thiệt hại về sức khỏe”. Bị đơn ông Chu Hưng L có nơi cư trú tại Chùa T, ấp H, thị trấn A huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Chu Hưng L có đơn xin phép được vắng mặt ngày 01/7/2022. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Chu Hưng L.
Về nội dung tranh chấp:
Việc cự cãi giữa nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh V và ông Chu Hưng L là thành viên của chùa T4, thực tế có xảy ra. Nguyên nhân, bà V trình bày do ông L có hành vi lôi kéo, xúc phạm phụ nữ, phát ngôn thiếu lịch sự, xua đuổi bà khi bà đến cúng phật, dẫn đến sự việc bà bị lật sơ mi cổ chân, làm thương tật và gây tổn hại đến sức khỏe của bà. Bà đã đi khám và điều trị tốn các khoản chi phí tổng cộng 2.270.000 đồng gồm: Xe đầu chở vào trong Đất T (A, C) cho Thầy T1 sửa bó thuốc ngải do lật sơ mi bàn chân: 100.000đồng; Trả tiền thuốc cho T2 chữa bệnh: 50.000đồng; Mua thuốc giảm đau, dầu nóng T, rượu, gừng để bó thêm, ăn cơm mua nước uống lúc bệnh trong 2-3 ngày chân bị đau: 200.000đồng; Chụp hình X. Q1 ở L (xe đi về L - C trong ngày) do Bác sĩ Đinh Xuân T3 chụp X. Quang: 320.000đồng; Mua thuốc uống 05 ngày ở Bác sĩ Chương: 100.000đồng; Bồi thường ăn uống trong 05 ngày uống thuốc, xe đầu đi lại khi tới chùa trong 05 ngày từ L lên C để kêu ông L trả lại tiền thuốc: 1.000.000đồng; Ngày 12/6/2020, bà tiếp tục đi tái khám, chi phí xe cộ ăn uống, photo giấy tờ: 500.000đồng; Cùng ngày, ông L có đưa bà: 200.000đồng. Còn lại số tiền: 2.070.000đồng. Tất cả các chi phí trên, bà không có hóa đơn chứng từ hay chứng cứ gì để chứng minh. Bà yêu cầu bị đơn phải bồi thường lại chi phí nêu trên và số tiền tiếp tục điều trị là 17.930.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà yêu cầu bồi thường là 20.000.000 đồng.
Phía bị đơn ông Chu Hưng L không đồng ý với toàn bộ chi phí bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo yêu cầu khởi kiện của bà V.
Tại phiên tòa hôm nay, bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, bà V không cung cấp được chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút cụ thể: tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chụp X-quang, siêu âm, xét nghiệm, tiền viện phí, tiền mua thuốc bổ, bồi dưỡng sức khỏe... theo chỉ định bác sĩ. Trong quá trình tố tụng Tòa án ban hành Quyết định số 67/2022/QĐ.CCTLCC ngày 07/10/2022 về việc yêu cầu bà V cung cấp, tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, đến nay bà V không cung cấp, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đối với ông Chu Hưng L.
Căn cứ các chứng cứ bà V đã cung cấp thể hiện:
Tại Phiếu chiếu/Chụp X-Quang ngày 12/6/2020 tại Trung tâm Y tế thành phố L có kết quả film cẳng chân (p): “Cấu trúc Xương: Không thấy bất thường; Tổn Thương Xương: Không thấy hình tổn thương xương”.
Tại Phiếu chụp X Quang ngày 27/3/2020 tại Phòng chụp X – Bác sĩ Đinh Xuân T3 có kết quả: “ Xương, khớp bàn chân (T) bình thường”.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh V đối với ông Chu Hưng L về yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe.
Đối với số tiền 200.000 đồng ông L xác định đã đưa cho bà V, ông cho rằng việc đưa tiền là để bà V không gây rối nữa (BL 41), ông không có lỗi và không tranh chấp hay yêu cầu bà V trả lại nên không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, bà V được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. bà V có nộp đơn xin miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà V miễn được án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Chu Hưng L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85 và khoản 2 Điều 86 , Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 584, Điều 585, Điều 590, Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 12, Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh V đối với ông Chu Hưng L.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Thanh V được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Thị Mỹ Linh |