vanban.org

Bản án 14/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 14/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HSST
Ngày: 14/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Hạnh.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Huyền.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Ngọc Nam, cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2022/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/HSST - QĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 đối với:

*Bị cáo Nguyễn Văn Th, sinh ngày 25/02/1979; HKTT: Số nhà 63/ 31 đường Ch, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; TĐVH: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Đặng Thị Ng; vợ là Hoàng Thị M, sinh năm 1982.(Đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2007; con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2021. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 35 phút ngày 24/12/2021, tại khu vực ngã ba đường liên thôn thuộc Đội 8, thôn A, xã L, thành phố H. Tổ công tác Công an thành phố Hưng Yên phối hợp với Công an xã Liên Phương tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của Th 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất màu trắng đục dạng cục, bột. Th tự khai nhận là ma túy, loại Heroine cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng là ma túy được niêm phong trong một phong bì dán kín có đầy đủ chữ ký của những người liên quan và đưa Th về trụ sở làm việc.

Biên bản về việc kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Văn Th ngày 24/12/2021, tiến hành kiểm tra trực tiếp nước tiểu bằng que thử nhãn hiệu Fastep Rapid Diagnastis test xuất hiện dương tính với nhóm ma tuý (Morphine).

Ngày 24/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Th nhưng không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Kết luận giám định số 57/MT-PC09 ngày 27/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng đục dạng cục, bột trong niêm phong thu được của Nguyễn Văn Th có khối lượng là 0,138g là ma tuý, loại Heroine. Hoàn lại 0,126g ma tuý loại heroine trong phong bì niêm phong.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Th khai: Khoảng 14 giờ ngày 24/12/2021 Th đi bộ lang thang từ nhà xuống khu vực xã L, thành phố H để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến khu vực đường liên thôn thuộc Đội 8, thôn An Chiểu 1, thành phố Hưng Yên gặp một nam thanh niên tên “B” là bạn nghiện với Th, Th hỏi: “Có hàng không?” (ma túy Heroine) và bảo B mua hộ 200.000 đồng ma túy, B đồng ý. Sau khi Th đưa 200.000 đồng thì B đi đâu đó khoảng 5 phút rồi quay lại đưa cho Th một vỏ bảo thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có một gói giấy bạc bọc chất màu trắng dạng cục, bột, Th cầm và đi tìm nơi để sử dụng ma túy vừa mua thì bị lực lượng Công an TP.Hưng Yên kiểm tra bắt quả tang, thu giữ.

Đối với đối tượng đã đi mua ma túy cho Th, Th khai chỉ biết tên là “B” cũng là người nghiện ở khu vực M, thành phố H, đây là lần đầu tiên Th nhờ B mua ma túy, khi mua chỉ có Th và “ B” biết; Th không có thông tin về lai lịch, cách liên lạc hay đặc điểm nhận dạng. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hưng Yên đã tiến hành xác minh, rà soát trên địa bàn nhưng không có ai tên là “ B” như Th khai nên không có đủ căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 10/QĐ-VKS-HS ngày 16/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo theo bản cáo trạng, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy do cơ quan giám định hoàn mẫu. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hưng Yên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục như ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 34 - 35); Bản kiểm điểm, bản tường trình và Biên bản ghi lời khai của bị cáo (BL 54 - 67); Bản Kết luận giám định số 57/MT-PC09 ngày 27/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên (BL 33), cùng với các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 35 phút, ngày 24/12/2021 tại khu vực ngã ba đường liên thôn thuộc địa phận thôn An Chiểu 1, xã L, thành phố H, tổ công tác Công an thành phố Hưng Yên tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam ma tuý, là loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là chính xác, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; mẹ đẻ của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để trừng trị, cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp: điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu, có tổng trọng lượng là 0,126g và 01 vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, đã cũ.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2021.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

[3] Biện pháp tư pháp: điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu có tổng trọng lượng là 0,126g Heroine và 01 vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, đã cũ.

(Chi tiết, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ - VKS ngày 16/3/2022)

[4] Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ