- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trường Khương - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trƣờng K (Lê Văn U) phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HS-ST Ngày 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Dân
Ông Ngô Hoàng Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dƣơng - Là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Đa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 215/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Trường K - sinh năm 1997; tên gọi khác: Lê Văn U; giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thƣờng trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: Nhà không số, Kênh R, khóm 1, phƣờng 8, thành phố C; nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn H (chết); mẹ: Trần Thị X, sinh năm 1946; vợ: Phạm Thị D, sinh năm 1985; con: Lê Thị Nhƣ H1, sinh năm 1999; Lê Trọng H2, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng tháng 3 năm 2020, Trần Thanh Th giới thiệu cho bị cáo Lê Trƣờng K mua của ngƣời tên T (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) 01 xe môtô hiệu Suzuki loại Sport 120, biển số 67M1-057.65, số khung: MHDBF13BLWJ606004, số máy: F125-ID609960. K và T thỏa thuận giá mua ban xe là 24.000.000 đồng. Khi mua xe, bị cáo không biết xe có phải do phạm tội mà có hay không, nhƣng biết xe không rõ nguồn gốc. Bị cáo thấy giá rẻ nên mua nhằm mục đích để làm phƣơng tiện đi lại. Sau một thời gian, bị cáo làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe nói trên.
Khoảng tháng 5 năm 2021, bị cáo K thấy trên Facebook có quảng cáo làm giấy tờ giả nên K liên hệ với ngƣời làm giấy tờ giả, sau đó sử dụng Zalo của K tên “K” để trao đổi, liên hệ đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 69N1-738.90, với giá 1.500.000 đồng, lấy tên chủ sở hữu xe là Lê Trƣờng Kh, địa chỉ là ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (Kh là anh ruột của K, đã chết) và 01 biển số xe 69N1-738.90 với giá 500.000 đồng. K cho địa chỉ ngƣời nhận là Lê Văn U - tiệm hớt tóc U thuộc khóm 1, phƣờng 8, thành phố Cà Mau. Khoảng 5 ngày sau, thông qua hình thức shiper thu hộ, K nhận đƣợc giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe 69N1-738.90. K gỡ biển số xe 67M1-057.65 vứt bỏ rồi gắn biển số 69N1-738.90 vào xe Suzuki Sport 120 mà K đã mua trƣớc đó để sử dụng.
Đến ngày 11/6/2021, ông Nguyễn Hồng L trú cùng khóm 1, phƣờng 8, với bị cáo đi ngang qua tiệm hớt tóc của bị cáo, thấy xe Suzuki mà K sử dụng trƣớc đây gắn biển số 69N1-738.90. Thấy khác biển số trƣớc, nghi vấn là xe trộm nên ông L báo Công an phƣờng 8. Khi lực lƣợng Công an đến yêu cầu K xuất trình giấy tờ xe để kiểm tra, thì K xuất trình giấy chứng nhận xe giả đã đặt mua trƣớc đó. Sau đó lực lƣợng Công an mời K về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe môtô có gắn biển kiểm soát 69N1-738.90.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 69N1-738.90, tên chủ xe là Lê Trƣờng Kh, địa chỉ ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Tại kết luận giám định số 206/GĐ-PC09 ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:
Xe môtô biển số 69N1-738.90 (ký hiệu A).
- Hàng chữ số MHDBF13BLWJ606004 (dạng dập khuôn) đóng trên khung xe (vị trí dƣới yên xe) là đóng lại; hàng chữ số .F12C-TH203237 (dạng dập khuôn) đóng trên khung xe (vị trí bên phải cổ xe) là nguyên thủy, (dấu . là còn 01 ký tự không đọc đƣợc). Không phát hiệu dấu hiệu bị cắt, hàn ghép.
- Hàng chữ số F125-ID609960 (dạng dập khuôn) đóng trên thân máy là đóng lại, không xác định đƣợc số máy nguyên thủy. Không phát hiện dấu hiệu bị cắt, hàn ghép.
Tại kết luận giám định số 213/GĐ-PC09 ngày 14 tháng 7 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:
1. Phôi “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE MÔTÔ, XE GẮN MÁY”, Số: 69 002175, biển số đăng ký 69N1-738.90, tên chủ xe Lê Trƣờng Kh, ngày 17/4/2021 (ký hiệu A) là giả.
2. Chữ ký, phía dƣới chữ ký họ tên Kiều Minh Đƣợc, dƣới mục “TRƢỞNG CA HUYỆN” trên “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE MÔTÔ, XE GẮN MÁY”, số: 69 002175 biển số đăng ký 69N1-738.90, tên chủ xe Lê Trƣờng Kh, ngày 17/4/2021 (ký hiệu A) so với 06 chữ ký, dƣới mục “Mẫu chữ của đồng chí thƣợng tá Kiều Minh Đƣợc” trên “BIÊN BẢN V/v thu mẫu hình dấu, chữ ký”, ngày 24/6/2021 (ký hiệu M2) là không phải do cùng một ngƣời ký ra.
3. Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH CÀ MAU * CÔNG AN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI *” trên “ CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE MÔTÔ, XE GẮN MÁY” Số: 69 002175, biển số đăng ký 69N1-738.90, tên chủ xe Lê Trƣờng Kh, ngày 17/4/2021 ( ký hiệu A) không phải do con dấu có hình mẫu dƣới mục “Mẫu hình dấu Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” trên “BIÊN BẢN thu mẫu hình dấu, chữ ký” ngày 24/6/2021 (ký hiệu M2) đóng ra.
Tại Cáo trạng số: 211/CT-VKS ngày 17/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Lê Trƣờng K (Lê Văn U) về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của BLHS.
Tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Trƣờng K và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trƣờng K từ 03 tháng đến 04 tháng tù.
Tang vật: Tịch thu sung quỹ 01 xe môtô hiệu Suzuki; tịch thu tiêu hủy biển số 69N1-738.90.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Khoảng tháng 3 năm 2020, bị cáo Lê Trƣờng K mua của ngƣời tên T (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) 01 xe môtô hiệu Suzuki loại Sport 120, biển số 67M1-057.65, số khung: MHDBF13BLWJ606004, số máy: F125-ID609960. Khi mua xe, bị cáo không biết xe có phải do phạm tội mà có hay không, nhƣng bị cáo biết xe không rõ nguồn gốc. Sau khi mua xe một thời gian, K làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Đến khoảng tháng 5 năm 2021, K lên mạng xã hội đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe môtô với giá 1.500.000 đồng và đặt làm giả biển số 69N1-738.90, với giá 500.000 đồng. Đến ngày 11/6/2021, đƣợc tin tố giác của quần chúng nhân dân, lực lƣợng Công an phƣờng 8 đã mời Lê Trƣờng K về trụ sở làm việc.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trƣờng K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận, khi mua xe của T, bị cáo không biết tài sản có phải do phạm tội mà có hay không, nhƣng bị cáo biết xe không rõ nguồn gốc, nhƣng thấy rẻ nên bị cáo mua để làm phƣơng tiện đi lại và khi bị cáo làm mấy giấy chứng nhận đăng ký xe, thì bị cáo không dám làm thủ tục xin cấp lại mà bị cáo lên mạng xã hội đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe, nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Lê Trƣờng K về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là ngƣời có đủ nhận thức, biết đƣợc việc sử dụng giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe giả là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhƣng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả để phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xem thƣờng pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động hành chính của Nhà nƣớc về quản lý tài liệu, con dấu; gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thấy đƣợc sai trái, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm án cho bị cáo, xử bị cáo mức án dƣới khung nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Tang vật:
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe giả ghi số 69 002175 biển số đăng ký 69N1-738.90 tên chủ xe là Lê Trƣờng Kh địa chỉ ấp G, xã L, huyện T, Cà Mau, ngày 17 tháng 4 năm 2021 đã lƣu vào hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với 01 biển số xe 69N1-738.90 do bị cáo đặt làm trên mạng xã hội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe môtô hiệu Suzuki do bị cáo mua của ngƣời tên T, không rõ nguồn gốc, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.
Đối với Trần Thanh Th là ngƣời giới thiệu cho K mua xe không rõ nguồn gốc của ngƣời tên T. Qua điều tra xác minh Th đang bị tai nạn giao thông nặng (mổ và nuôi não) nên không thể tiến hành làm việc đƣợc với Th, cũng chƣa làm việc đƣợc với T - Ngƣời đã bán xe cho K. Do đó, giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Đối với biển số xe 67M1-057.65. Qua tra cứu biển số xe trên đƣợc gắn vào xe Honda hiệu Vision do Nguyễn Thị Kim Nh ngụ Phú A, Phú H, huyện S, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, qua xác minh trên địa bàn không xác định đƣợc ngƣời có thông tin nhƣ trên, do đó không thể tiến hành làm việc đƣợc.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trƣờng K (Lê Văn U) phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trƣờng K (Lê Văn U) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Tang vật: Tịch thu sung quỹ 01 xe môtô hiệu Suzuki; tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 69N1-738.90.
Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/01/2022, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Cà Mau và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Trƣờng K (Lê Văn U) phải nộp 200.000 đồng (chƣa nộp).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - CAND thành phố Cà Mau; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Cơ quan THA hình sự thành phố Cà Mau; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hồng Thắm |