vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021. Xử phạt bị cáo Trần Trung T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N cùng đồng phạm - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HS-ST
Ngày: 28-01-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa.

2. Bà Linh Thị Ngọc Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 181/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn N (M), sinh năm 1996 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 1A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 và bà Lâm Thị U, sinh năm 1959 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2021. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Trần Trung T (C), sinh năm 1992 tại Bình Định; Nơi cư trú: Ấp 1, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần S, sinh năm 1952 và bà Thái Thị P, sinh năm 1954 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2021. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

3. Nguyễn Văn V, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 1A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Có 01 tiền sự (tại Quyết định số 52/QĐ-TA ngày 25/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Nguyễn Văn V thời hạn 14 tháng, bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 28/9/2021). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2021. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA.

Địa chỉ: Số 7 Ngách 56, Hẻm 10, Ngõ 1 ĐL, phường T, quận NTL, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Xóm D, thôn BN, xã TV, huyện T, thành phố Hà Nội.

Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 28/11/2021 của ông Phạm Văn L- Giám đốc Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA). (Vắng)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T4, thị trấn Y, huyện YL, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Kỳ U, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp 2, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)

2. Ông Hồ Văn P, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp T, xã XL, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)

3. Anh Lê Văn N, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Ấp 1A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/10/2021, Trần Trung T, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V tổ chức uống rượu cùng Lê Văn N, Trần Kỳ U và Hồ Văn P tại nhà của T thuộc ấp 1, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn N không uống nữa nên ra về trước, khi về Nguyễn Văn N mang theo một con dao thép dài 29cm lấy ở nhà Trần Trung T. Sau đó, Nguyễn Văn N đi bộ theo Quốc lộ 1A để về nhà. Do đã uống rượu say, Nguyễn Văn N đi lấn ra làn đường xe ô tô thì lúc này xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu, biển số 29H-418.18 do anh Nguyễn Đức H điều khiển và anh Nguyễn Trọng C là lơ xe, chạy tốc độ chậm phía sau nên Nguyễn Văn N đã dùng tay phải nắm vào kính bên lơ xe và dùng dao chém vào cánh cửa bên phía lơ xe tải. Anh Nguyễn Đức H dừng xe lại thì Nguyễn Văn N đi sang bên trái xe leo lên cửa xe ô tô tải rồi dùng dao chém làm vỡ kính chắn gió bên trái. Lúc này, anh Nguyễn Đức H gọi anh Nguyễn Trọng C và cả hai cầm tuýp sắt và điếu cày hút thuốc xuống xe rượt đuổi đánh Nguyễn Văn N. Nguyễn Văn N chạy về nhà Trần Trung T nói “anh ơi cứu em”, nghe vậy, Trần Trung T cầm một cây búa bằng sắt, Nguyễn Văn V cầm một con dao tự chế rồi cùng với Nguyễn Văn N rượt đuổi đánh lại anh Nguyễn Đức H và anh Nguyễn Trọng C. Thấy vậy, anh Nguyễn Đức H và anh Nguyễn Trọng C chạy đến xe ô tô tải nổ máy xe để đi thì Nguyễn Văn N cầm một cục bê tông ném làm vỡ kính chắn gió phía trước của xe tải, Trần Trung T dùng rìu sắt đập bể kính chắn gió phía trước và Nguyễn Văn V dùng dao tự chế chém bể kính chiếu mũi phía trước xe tải. Sau đó Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V bỏ về nhà.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐG ngày 04/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc, kết luận: Giá trị của 01 kính chắn gió xe, kích thước 69x210cm và công thay kính là 18.496.018 đồng; 01 cửa kính bên trái xe, kích thước 60x89cm và công thay là 1.375.982 đồng; 01 kính chiếu mũi xe là 715.856 đồng; Công sửa chữa, sơn 01 cánh cửa phải mặt ngoài sát mép kính xe bị đẩy thụm kích thước 03x1cm và vết đứt thẳng ngay mép cửa kính bên trái, kích thước 08x5cm của xe ô tô tải là 300.000 đồng; Thuế giá trị gia tăng (VAT) 10 % tiền sửa chữa thay thế phụ tùng là 2.058.786 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 22.946.600 đồng.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01 cây búa cán sắt dài 71cm, đường kính 03cm, đầu búa dài 15cm, lưỡi búa dài 06cm, dày 01cm; 01 con dao thép màu trắng, dài 29cm, bản 09 cm; 01 con dao tự chế bằng sắt dài khoảng 60cm; 01 cục bê tông không rõ hình, kích thước 02cm x 01cm x 01cm x01cm.

Bản cáo trạng số 05/CT-VKSXL ngày 30 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/10/2021, tại đường Quốc lộ 1A thuộc ấp 1, xã XH, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V đã có hành vi dùng dao, búa sắt, dao tự chế và cục bê tông đập phá, ném làm hư hỏng xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu, biển số 29H-418.18 thuộc sở hữu của Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA. Tổng giá trị tài sản các bị cáo làm hư hỏng là 22.946.600 đồng.

Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Trần Trung T có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Văn V không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 14 đến 16 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Trung T và bị cáo Nguyễn Văn V mỗi bị cáo từ 12 đến 14 tháng tù.

Căn cứ Điều 584 và Điều 587 của Bộ luật Dân sự: buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA số tiền 22.946.600 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V tự bào chữa: các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình trái với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra thể hiện Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền theo kết quả định giá thiệt hại là 22.946.600 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra thể hiện anh Nguyễn Đức H không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/10/2021, tại đường Quốc lộ 1A thuộc Ấp 1, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V đã có hành vi đập phá làm hư hỏng kính chắn gió và kính chiếu mũi xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu, biển số 29H-418.18 của Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA. Tổng giá trị tài sản các bị cáo gây thiệt hại là 22.946.600 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, chỉ vì sử dụng chất kích thích mà các bị cáo không làm chủ được hành vi của mình nên đã có hành vi đập phá xe ô tô tải của Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, trong đó bị cáo Nguyễn Văn N là người khởi xướng, lôi kéo và là người thực hành tích cực. Các bị cáo Trần Trung T và Nguyễn Văn V cùng tham gia đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực. Do đó, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N phải nghiêm khắc hơn các bị cáo Trần Trung T và Nguyễn Văn V.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Trần Trung T có nhân thân tốt; bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V trình độ học vấn thấp. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 22.946.600 đồng. Tại phiên toà, các bị cáo thống nhất cùng nhau bồi thường số tiền 22.946.600 đồng theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy, các bị cáo thống nhất thoả thuận bồi thường dân sự cho bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với yêu cầu bị hại và phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên ghi nhận, đồng thời chia phần và buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 7.649.000 đồng là phù hợp.

Về vật chứng: 01 cây búa cán sắt dài 71cm, đường kính 03cm, đầu búa dài 15cm, lưỡi búa dài 06cm, dày 01cm; 01 con dao thép màu trắng, dài 29cm, bản 09 cm; 01 con dao tự chế bằng sắt dài khoảng 60cm; 01 cục bê tông không rõ hình, kích thước 02cm x 01cm x 01cm x01cm là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 382.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm do có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại (5% x 7.649.000 đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021.

Xử phạt bị cáo Trần Trung T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021.

- Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 590 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V, mỗi bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA số tiền 7.649.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm bốn mươi chín ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn xin thi hành án (Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây búa cán sắt dài 71cm, đường kính 03cm, đầu búa dài 15cm, lưỡi búa dài 06cm, dày 01cm; 01 (Một) con dao thép màu trắng, dài 29cm, bản 09 cm; 01 (Một) con dao tự chế bằng sắt dài khoảng 60cm và 01 (Một) cục bê tông không rõ hình, kích thước 02cm x 01cm x 01cm x01cm, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/12/2021.

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 382.000 đồng (Ba trăm tám mươi hai ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng mỗi bị cáo phải chịu 582.000 đồng (Năm trăm tám mươi hai ngàn đồng) tiền án phí.

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Trung T và Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án;

Bị hại Công ty TNHH vận tải và thương mại dịch vụ TTA và anh Nguyễn Đức H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ