vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tuyên án 20/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo La Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo La Văn Ch 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/12/2021. Tuyên bố bị cáo La Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo La Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HS-ST
Ngày 20 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

[

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Liệu, ông Bùi Thế Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 2 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. La Văn Ch; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 06 năm 1990, tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản X, xã BC, huyện CC, tỉnh NA; Nghề nghiệp: trồng trọt; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông La Chí C (Đã chết), con bà Lương Thị T, sinh năm 1960; Vợ là Lô Thị Y, sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2012. Vợ, con đều trú tại Bản X, xã BC, huyện CC, tỉnh NA; Tiền án: Ngày 10/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông xử phạt 30 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 29/4/2020 bị cáo chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. La Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 06 năm 1992, tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản X, xã BC, huyện CC, tỉnh NA; Nghề nghiệp: trồng trọt; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông La Chí C (Đã chết), con bà Lương Thị T, sinh năm 1960. Bà hiện trú tại Bản X, xã BC, huyện CC, tỉnh NA; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bào chữa cho bị cáo La Văn Q và La Văn Ch có ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 02/12/2021, La Văn Ch một mình đi từ nhà sang bản Noóng Mò, xã Xiêng My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Đến nơi, Ch gặp và mua ma túy một người đàn ông không quen biết với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua xong, Ch cầm ma túy về nhà cất giữ và sử dụng dần. Khoảng 15 giờ, ngày 04/12/2021, La Văn Q đang ngồi tại quán Đồng Quê (thuộc xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) biết Ch (anh trai của Q) có ma túy nên Q nhắn tin xin Ch ma túy để sử dụng. Nhận được tin nhắn, Ch cầm số ma túy còn lại mua từ ngày 02/12/2021 đi bộ đến quán và đưa cho Q. Đến nơi, Ch bỏ gói nhỏ ma túy vào bên trong bao thuốc lá của Q rồi đi về. Sau đó, Q lấy gói ma túy đi bộ một mình đến khu vực đồi keo gần đường quốc lộ 48C, thuộc bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Con Cuông bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Q có 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng mảnh bao Potylen màu hồng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (là Heroine). Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Cùng ngày 04/12/2021, lực lượng Công an huyện Con Cuông đã tiến hành ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với La Văn Ch về hành vi trên.

Tại kết luận giám định số 1540/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 12/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của La Văn Q gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Chất bột màu trắng thu giữ của La Văn Q có tổng khối lượng là 0,14”.

Cáo trạng số: 09/CT - VKS - CC ngày 27/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố các bị cáo La Văn Q và La Văn Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo La Văn Q và La Văn Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với La Văn Ch; Xử phạt: Bị cáo La Văn Ch từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với La Văn Q; Xử phạt: Bị cáo La Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; Hóa giá sung công quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại; Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng, miễn toàn bộ án phí HSST cho các bị cáo.

- Người bào chữa cho các bị cáo La Văn Q và La Văn Ch có ý kiến bào chữa: Đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất và miễn hình phạt bổ sung, miễn tiền án phí cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được sử dụng làm chứng cứ đề Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo La Văn Q và La Văn Ch đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ, ngày 04/12/2021, La Văn Q đang ngồi tại quán Đồng Quê (thuộc xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) biết Ch (anh trai của Q) có ma túy nên Q nhắn tin xin Ch ma túy để sử dụng. Nhận được tin nhắn, Ch cầm số ma túy còn lại mua từ ngày 02/12/2021 đi bộ đến quán và đưa cho Q. Đến nơi, Ch bỏ gói nhỏ ma túy vào bên trong bao thuốc lá của Q rồi đi về. Sau đó, Q lấy gói ma túy đi bộ một mình đến khu vực đồi keo gần đường quốc lộ 48C, thuộc bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Con Cuông bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Q 0,14 gam ma túy (Heroine).

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an trên địa bản mà còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vụ án có hai bị cáo tham gia, mang tính chất đồng phạm nhưng thuộc dạng giản đơn.

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo:

Trong vụ án này bị cáo Ch là người cung cấp ma túy cho Q, bị cáo đã bị xét xử về tội ma túy nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phận hình phạt cho bị cáo như lời người bào chữa là có căn cứ.

Đối với bị cáo Q mặc dầu tuổi còn trẻ nhưng không chịu khó làm ăn mà sớm lao vào con đường nghiện ngập, khi biết Ch (là anh trai mình) nghiện ma túy đã không khuyên nhủ mà còn tiếp tay. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Xét từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như lời người bào chữa là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Theo lời khai của La Văn Ch thì số ma túy mà La Văn Ch có được là do Ch mua của một người đàn ông không quen biết ở bản Noóng Mò, xã Xiêng My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Qua xác minh, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch của người dàn ông này.Vì vậy cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ thì sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của La Văn Q đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Số vật chứng còn lại gầm 01 phong bì thư đã được mở niêm phong; 01 mảnh bao potylen màu Hồng là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại là vật chứng vụ án nên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc Thái, sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của BLHS đối với La Văn Ch.

Tuyên bố bị cáo La Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo La Văn Ch 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/12/2021.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của BLHS đối với La Văn Q.

Tuyên bố bị cáo La Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo La Văn Q 01 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/12/2021.

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện đã niêm phong bên trong có: 01 phong bì thư đã được mở niêm phong; 01 mảnh bao potylen màu hồng; Hóa giá sung công quỹ 02 chiếc điện thoại. Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/01/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí HSST cho các bị cáo.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ