vanban.org

Bản án 14/2022/HS-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 07/03/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt, sinh ngày 17/7/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con. Chị Trần Thị H không phải đóng góp tiền c p dưỡng nuôi cháu Nguyễn Văn Tu n K và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 3 - 2022
V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng; ông Nguyễn Sỹ Quân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2022 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 87/2021/TLST - HNGĐ, ngày 27/7/2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST - HNGĐ, ngày 06/01/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1990; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trư c khi xu t cảnh: Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Thái Lan. Vắng mặt.

3. Người tham gia tố tụng khác: Chị Trần Thị Thanh; địa chỉ: Thôn Đô Hành, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (chị gái chị Trần Thị H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị H kết hôn hợp pháp v i nhau vào năm 2010 tại Ủy ban nhân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay anh T và chị H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Tại Quyết định trên, anh T và chị Trần Thị H đã thỏa thuận, thống nh t giao con chung Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 26/4/2011 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con; Giao con chung Nguyễn Văn Tu n K, sinh ngày 07/7/2017 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con và hai bên không phải đóng góp c p dưỡng nuôi con.

Tuy nhiên, sau khi ly hôn được một thời gian ngắn thì chị Trần Thị H tiếp tục sang Thái Lan lao động chưa về Việt Nam và cháu Nguyễn Văn Tu n K sống v i anh T và ông bà nội tại thôn T, xã S, huyện C từ đó cho đến nay. Thỉnh thoảng chị H có gọi điện về cho con và có nhờ người gửi sữa cho con ngoài ra không chu c p và cũng không có trách nhiệm gì v i con. Anh T nhận th y chị H từ khi giao con đến nay, chị H không có mặt tại địa phương, không trực tiếp thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kiệt, nếu tiếp tục giao con cho chị H thì sẽ không đảm bảo cuộc sống cho con. Mặt khác, cháu hiện nay đã đến tuổi đi học, để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, học hành của cháu được thuận lợi, ổn định anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt và không yêu cầu chị H c p dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua người nhà, chị Trần Thị H trình bày: Chị H trình bày thống nh t v i anh T về việc phân chia con chung khi ly hôn của chị H và anh T. Chị H cho rằng, sau khi ly hôn được một thời gian khoảng tháng 10/2020 chị trở lại Thái Lan lao động, trư c khi đi chị H có làm gi y ủy quyền cho chị Trần Thị Thanh (chị gái chị H) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt trong thời gian chị H chưa về Việt Nam. Sau khi chị H đi được một thời gian ngắn, anh T và ông bà nội cháu Kiệt sang chơi, đón cháu về giữ bên nhà nội không đưa cháu lại cho chị Thanh, nhiều lần chị Thanh sang đón cháu về nhưng anh T và ông bà nội không cho đón. Trong thời gian cháu ở v i anh T và ông bà nội, chị H thường xuyên gửi tiền về cho anh T để nuôi con, ngoài ra chị còn nhờ người mang sữa, áo quần, sách vở cho hai cháu. Chị thường xuyên liên lạc v i con và có trách nhiệm v i con. Nay anh T làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt chị không đồng ý.

Hiện nay chị H đang lao động tự do tại Thái Lan, do tình hình dịch bệnh phức tạp chị không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án, chị H đề nghị Tòa án gửi, tống đạt các văn bản qua chị Trần Thị T (chị gái chị H); địa chỉ : Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Chị Trần Thị T (chị gái chị H) cho biết thời gian chị H đi vắng, ủy quyền cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tu n Kiệt thì chị H có gửi tiền về để nuôi con và chị đồng ý nhận các văn bản mà Tòa án giao gửi cho chị H, chị Thanh cam đoan sẽ thông báo cho chị H được biết đầy đủ ngoài ra chị không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc ch p hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T, xử: Giao con chung Nguyễn Văn Tu n K, sinh ngày 07/7/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con. Chị Trần Thị H không phải đóng góp c p dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn c m. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Thị H hiện đang sinh sống, lao động tại Thái Lan không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 18100/QLXNC-P5, ngày 12/8/2021 của Cục quản lý xu t nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Chị Trần Thị H, sinh ngày 13/7/1990 đã xu t cảnh gần nh t vào ngày 24/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nư c. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình, chị Trần Thị H trình bày vì điều kiện công việc, tình hình dịch bệnh phức tạp không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết vụ án và ủy quyền giao nhận tài liệu, chứng cứ cho chị Trần Thị T (chị gái chị H); địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối v i chị H, nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Trần Thị H theo thủ tục chung.

Về nội dung: Xét nội dung yêu cầu của anh Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét th y:

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã công nhận sự thỏa thuận của anh T và chị H, theo đó giao con chung Nguyễn Văn Tu n Kiệt, sinh ngày 07/7/2017 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con và hai bên không phải đóng góp c p dưỡng nuôi con. Việc anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là nguyện vọng chính đáng, là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối v i con và là đạo lý của người Việt Nam. Tuy nhiên, trên cơ sở để đảm bảo cho việc phát triển toàn diện của con thì cũng cần xem xét xét điều kiện thực tiễn hiện tại của mỗi bên. Trên có sở đó hội đồng xét xử xét th y:

Chị Trần Thị H hiện đang sinh sống và lao động tự do tại Thái Lan. Theo chị H và chị gái chị H trình bày, sau khi ly hôn khoảng tháng 10/2020 chị H m i xu t cảnh sang Thái Lan lao động và ủy quyền lại việc nuôi con cho chị gái chị H, tuy nhiên theo Công văn Xu t nhập Cảnh của Bộ Công an thì chị H xu t cảnh gần nh t vào ngày 24/02/2020, theo đó kể từ thời gian xu t cảnh đến nay chị H không trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối v i cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt. Mặc dù, lời khai của chị H cho rằng chị H đi Thái Lan từ tháng 10/2020 và được một thời gian ngắn cháu Tu n K được bố và ông bà nội đón về cho đến nay, tuy nhiên căn cứ công văn trả lời của Cục xu t nhập cảnh của Bộ Công an thì phù hợp v i lời khai của anh Nguyễn Văn T về thời gian cháu Tu n Việt chuyển về sinh sống cùng v i anh T. Chị Trần Thị H trình bày, quá trình cháu Tu n K chuyển về sinh sống cùng anh T, chị thường xuyên gửi tiền về cho anh T nuôi con, tuy nhiên chị H không cung c p được các tài liệu chứng minh việc chị trình bày.

Anh Nguyễn Văn T thừa nhận chị H thỉnh thoảng có liên lạc về cho con, có nhờ người mang sữa đến cho con ngoài ra chị H không có trách nhiệm gì v i con. Anh T hiện nay đang lao động tại địa phương, có thu nhập, nơi sinh sống ổn định và có điều kiện thời gian để chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Mặt cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt đang bư c vào độ tuổi cần sự yêu thương, chăm sóc của bố hoặc mẹ để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của cháu. Chị H lại đang sinh sống tại Thái Lan. Do vậy, cần ch p nhận yêu cầu của anh T, giao cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Nếu sau này, chị H chứng minh được anh T không đủ điều kiện để chăm sóc cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt hoặc chăm sóc không tốt thì có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi lại người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về nghĩa vụ c p dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 271, 273, 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cháu Nguyễn Văn Tu n Kiệt, sinh ngày 17/7/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con. Chị Trần Thị H không phải đóng góp tiền c p dưỡng nuôi cháu Nguyễn Văn Tu n K và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn c m.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ