vanban.org

Bản án 14/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn T;

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác T nguyên”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm về quy định khai thác tài nguyên - phạm tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (điều 227 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 227 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HS-PT
Ngày: 06/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Y

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn M

Ông Phan Nhựt B

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Ph, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn V, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 09/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 do có kháng kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2020/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp Hội Thành, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ấ và bà Mai Thị Bé T, có vợ Phạm Thị Ngọc T và 01 người con sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: ngày 28/6/2019 bị Công an tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000đ, về hành vi khai thác khoáng sản không có giấy phép, đã chấp hành nộp phạt xong và không có khiếu nại, khởi kiện quyết định này; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Hữu Ph thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 28/3/2020, Phan Văn T ngụ xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre có thuê Đào Công Đ ngụ xã Long Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đến cùng nhau điều khiển phương tiện tàu gỗ (ghe gỗ) không biển kiểm soát có tải trọng khoảng 40 tấn, đi từ Vàm Thơm thuộc huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đến tuyến sông Cổ Chiên thuộc thủy phận ấp Thông Lưu, xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, để thực hiện hành vi khai thác cát sông không phép. Khi đến nơi, do ghe gỗ không có mỏ neo nên Đ vận hành máy chạy ghe giữ thăng bằng, còn T là người vận hành máy bơm cát và thả ống nhựa xuống lòng sông Cổ Chiên, để thực hiện hành vi hút cát từ lòng sông lên ghe.

Đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, lúc này cát hút từ lòng sông lên ghe được khoảng 8,16m3 thì bị Tổ công tác tuần tra thuộc Công an huyện Vũng Liêm, phát hiện lập biên bản quả tang cùng với các phương tiện phạm tội.

Căn cứ kết quả giám định của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long ngày 09/6/2020 kết luận: đối với mẫu cát thu giữ do Phan Văn T và Đào Công Đ khai thác tại tọa độ 58374206; 111374252 là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khoáng sản là cát (BL 113).

Đồng thời, Sở T nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long xác định, vị trí tọa độ này không có cấp phép khai thác khoáng sản cát lòng sông cho cá nhân, đơn vị nào.

Căn cứ kết luận định giá T sản số 21/KLĐG.ĐGTSTTTHS ngày 31/6/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long, kết luận khối lượng 8,16m3 cát có giá trị 519.270 đồng (năm trăm mười chín ngàn hai trăm bảy mươi đồng) (BL 166-167).

* Phương tiện, công cụ đã sử dụng gồm:

- Cát có khối lượng 8,16m3

- 01 (một) ghe gỗ không biển kiểm soát (đã qua sử dụng), có tải trọng khoảng 40 tấn, chiều dài 15m, chiều rộng 3,4m, chiều cao 1,53m

- 01 (một) máy bơm hút cát hiệu Yamaha

- 01 (một) ống hút cát, loại ống nhựa màu xanh dài 18m, đường kính 14cm

- 01 (một) ống bơm nước, loại ống nhựa màu đen dài 5m, đường kính 12cm

Phan Văn T đã có 01 tiền sự về hành vi khai thác khoáng sản (cát sông) mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 28/6/2019. Đã chấp hành nộp phạt xong (BL 134-135; 160-161)

Đào Công Đ đã có 01 tiền sự về hành vi khai thác khoáng sản (cát sông) mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị Công an huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt hành chính số tiền 2.000.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 905/QĐ-XPHC ngày 20/12/2019. Đã chấp hành nộp phạt xong (BL 162)

Quá trình điều tra, xác định phương tiện ghe gỗ không có giấy đăng ký là của ông Phan Văn Ấn – ngụ xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (cha ruột của T), đã dùng trước đó để đi bơm nước ngọt cho người dân xung quanh. Sau đó, do ông Ấn sức khỏe yếu nên có cho Phan Văn T thuê lại, việc T dùng phương tiện này đi bơm cát trái phép thì ông Ấn không biết.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác T nguyên”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 227, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với Phan Văn T.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành hình phạt hoặc từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08 tháng 12 năm 2020, bị cáo Phan Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm bán án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào các chứng cứ và T liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện T liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Bị cáo Phan Văn T bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác T nguyên” theo điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự 2015.

Ngày 08/12/2020 bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Nội dung vụ án: Tại phiên Tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.

Nhận định của Hội đồng xét xử: bị cáo Phan Văn T thuê bị cáo Đào Công Đ cùng đi bơm cát. Đến khoảng 16 giờ ngày 25 ngày 28/32020 trong lúc bị cáo Đ đang vận hành máy chạy ghe để giữ thăng bằng, còn bị cáo T thì đang vận hành máy bơm hút cát và thả ống nhựa xuống lòng sông Cổ Chiên để thực hiện hành vi hút cát từ lòng sông lên ghe được 8,16m3 thì bị tổ tuần tra công an huyện Vũng Liêm phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ công cụ, phương tiện phạm tội. Qua xác định vị trí khai thác cát trái phép, Sở T nguyên môi trường xác định chưa cấp phép khai thác khoáng sản cho tổ chức hoặc cá nhân nào tại tọa độ này. Mặc dù mới bơm được lượng cát 8,16m3 theo định giá là 519.270 đồng nhưng bị cáo đã bị xử lý hành chính về hành vi khai thác T nguyên trái phép –cát sông trước đó nên hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác T nguyên”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ Luật hình sự năm 2015 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội.

Xét về phần lượng hình: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý T nguyên của nhà nước, gây thiệt hại đến nguồn thu ngân sách và gây mất trật tự trị an ở địa phương. Tuy nhiên, khi lượng hình xét thấy bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ như thật thà khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha vừa mới chết, bản thân lại là lao động chính trong gia đình. Trong quá trình tại ngoại không vi phạm pháp luật, cho nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với Đ sống xã hội, nhằm tạo điều kiện để bị cáo lao động để nuôi sống gia đình cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn T;

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác T nguyên”.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58, Điều 17 của Bộ Luật hình sự 2015

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 01 năm 2022)

Giao bị cáo Phan Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Phan Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

(Đã giải thích chế độ án treo).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Minh Phan Nhựt Bình

Phan Văn Yên

Cỡ chữ