vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Chu Thị M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn T.

Về hôn nhân: Chị Chu Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc A cho chị Chu Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ (Chu Thị M- Nguyễn Văn T)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Chu Thị M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 14/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 05 - 5 - 2022
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hay;

Ông Nguyễn Viết M;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân S, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2021/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 09/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Chu Thị M - sinh năm 1993 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố V, Phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1989 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố Đ, Phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Chu Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T tự nguyện kết hôn với nhau, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác biệt, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. Nhiều lần anh T còn uống rượu và hành hung chị, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải được nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị M được giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung, là cháu Nguyễn Ngọc A - sinh ngày 03/8/2018. Hiện cháu A đang ở vơi chị M. Nay chị M đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị M không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa lần 02 có mặt chị M, vắng mặt anh T, chị M vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân S phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xử cho chị M được ly hôn với anh T.

Về yêu cầu nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, cần giao cháu Nguyễn Ngọc A cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản, công nợ chung: Chị M không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Chu Thị M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân S có đủ cơ sở nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại phường Q thành phố S, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Sầm Sơn là đúng quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T đã thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả chị và anh không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.

. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính tình và quan điểm sống, không có tiếng chung từ đó dẫn đến vợ chồng anh chị thường xuyên cải vả nhau, xung đột nhau. Ngoài ra có lần anh T còn uống rượu và hành hung chị. Vợ chồng đã sống ly thân nhau đã lâu và không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện anh T không mong muốn vợ chồng hòa giải những bất đồng để quay về đoàn tụ, không tha thiết với cuộc sống hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của chị M là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của Kiểm sát viên, cho chị Chu Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung, là cháu Nguyễn Ngọc A

- sinh ngày 03/8/2018. Nay chị M đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A vì hiện nay cháu đang ở với chị.

Xét thấy việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng có quyền này. Cháu Nguyễn Ngọc A hiện nay đang ở với chị M và nguyện vọng của chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu, nên cần giao cháu A cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, về nguyện vọng nuôi con của chị M là phù hợp và có căn cứ.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là ý chí tự nguyện của chị M, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Chu Thị M phải chịu, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Chu Thị M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn T.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Chu Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T;

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc A cho chị Chu Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Chu Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0013174 ngày 22/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự S, tỉnh Thanh Hóa. Chị M đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Chị Chu Thị M được quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ