vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 22/04/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D là vợ chồng.

Án phí: chị Nguyễn Thị Thu A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 3353 ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án chị Nguyễn Thị Thu A được quyền kháng cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu A với anh Chen Xi D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Lành

bà Đặng Thị Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Cẩm Linh– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 về: “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu A; cư trú tại: ấp M, xã H, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: anh Chen Xi D; cư trú tại: thôn C, xã S, huyện N, tỉnh G, Trung Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/5/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu A trình bày:

Thông qua mai mối, chị và anh Chien Xi D kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc vào năm 2012. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ngôn ngữ, anh Chen Xi D ăn chơi, không lo làm ăn nên vợ chồng thường hay cãi nhau, đánh nhau. Vì vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đến tháng 3 năm 2013 chị về Việt Nam ở cho đến nay. Lúc đầu, chị và anh Chen Xi D còn liên lạc với nhau, anh Chen Xi D yêu cầu chị về chung sống nhưng chị không đồng ý, từ tháng 4 năm 2013 chị và anh Chen Xi D không còn liên lạc với nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Chen Xi D.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh Chen Xi D là bị đơn có quốc tịch Trung Quốc, tại thời điểm thụ lý vụ án, đang cư trú tại Trung Quốc. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp theo quy định để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Chen Xi D là bị đơn. Trong đó, ấn định ngày mở phiên họp hòa giải, ngày mở phiên tòa. Tuy nhiên, anh Chen Xi D không có mặt để tham dự phiên tòa. Vì vậy, Tòa án giải quyết vắng mặt đối với anh theo quy định tại Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xét chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D kết hôn vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc nên đây là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vì căn cứ xác lập quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Căn cứ vào khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết.

Nhận thấy chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc vào năm 2012 nhưng không thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định tại Điều 48 và Điều 50 của Luật Hộ tịch và theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về biện pháp thi hành luật hộ tịch. Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D không được công nhận là vợ chồng.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu A không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Thu A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị: không công nhận chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D là vợ chồng. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Nguyễn Thị Thu A và anh Chen Xi D là vợ chồng.

2. Án phí: chị Nguyễn Thị Thu A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 3353 ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án chị Nguyễn Thị Thu A được quyền kháng cáo. Anh Chen Xi D được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ