- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST Ngày: 01-4-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Đầy.
Bà Phan Thị Trang Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
Ngày 01 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 (xin vắng).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện N, tỉnh C .
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 (xin vắng).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện N, tỉnh C .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 01 năm 2022 và biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 22 tháng 3 năm 2022, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà N tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 1998, đến nay chưa lập thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Lý do ly hôn: Trong quá trình chung sống không hợp nhau, xảy ra nhiều mâu thuẫn nên trong hôn nhân không hạnh phúc do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 đến nay. Thời gian sống ly thân ông, bà cũng không khắc phục được mâu thuẫn. Nếu duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc nên ông B yêu cầu ly hôn với bà N.
- Về nuôi con chung, cấp dưỡng: Có 01 người con chung tên Nguyễn Hoàng Vũ (nam), sinh ngày 13/3/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 22 tháng 3 năm 2022 và biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 22 tháng 3 năm 2022, bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông B quen biết và tìm hiểu nên đã tiến tới hôn nhân từ năm 1998, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì cuộc sống chúng tôi không hợp nhau do bất đồng quan điểm nên vợ chồng tự thỏa thuận sống ly thân cho đến nay.
Do đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông B yêu cầu ly hôn thì bà N đồng ý ly hôn với ông B.
- Về con chung, cấp dưỡng: Có 01 người con chung tên Nguyễn Hoàng Vũ (nam), sinh ngày 13/3/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông B và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Biền và ông Phong là đúng quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Ông B và bà N chung sống với nhau từ năm 1998 trên tinh thần tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng tự nguyện sống ly thân cho đến nay. Cả hai nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông B. Nhưng không thể ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa hai đương sự vì đến nay chưa lập thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, căn cứ Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà N không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về nuôi con chung, cấp dưỡng, tài sản và công nợ: Ông B và bà N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Như vậy, về nuôi con chung, cấp dưỡng, tài sản và công nợ các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền tự định đoạt của đương sự.
Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông B phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.
2. Về nuôi con chung, cấp dưỡng, tài sản và công nợ: Hai đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông B phải chịu 300.000 đồng, ông B đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0015368 ngày 05/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, không phải nộp tiếp.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Khánh |