- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị L xin ly hôn Cà Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 14/2022/HNGD-ST Ngày 08 tháng 8 năm 2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Mai Thị Trường
2. Ông: Vừ A Sinh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2022/TLST-HN&GĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Họ và tên: Lò Thị L; sinh năm: 1995.
- Nơi cư trú: Bản CN, xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị L: Bà Lò Thị Khánh H – Trợ giúp viên pháp lý, nơi công tác Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
2. Bị đơn:
- Họ và tên: Cà Văn Tr; sinh năm: 1988.
- Nơi cư trú: Bản CN, xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 20/4/2022; tại bản khai của chị L ngày 10/5/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị L trình bày:
* Về hôn nhân: Tôi (L) và anh Cà Văn Tr đăng ký kết hôn ngày 03/9/2015 tại xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trước khi lấy nhau hai bên tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới tôi và anh Tr chung sống hạnh phúc một thời gian. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do anh Tr không tu trí làm ăn, thường xuyên rượu chè, cờ bạc, lô đề không chăm lo cho gia đình. Mâu thuẫn giữa tôi và anh Tr ngày càng xấu đi, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện MA giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Cà Văn Tr.
* Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh Tr có 01 người con chung là cháu Cà Thị Nguyệt A, sinh ngày 16/7/2019. Nguyện vọng của tôi là sau khi ly hôn tôi nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyệt A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và anh Tr không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày hôm nay chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Cà Văn Tr; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị đã trình bày.
* Bị đơn: Anh Cà Văn Tr mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh Tr vẫn vắng mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị L là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L cụ thể như sau:
Thứ nhất về hôn nhân: Chị L và anh Tr lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/9/2015 tại UBND xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Tr không tu trí làm ăn, thường xuyên rượu chè, cờ bạc, lô đề không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 01/2022 đến nay chị L và anh Tr đã sống ly thân. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Tr đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L và tuyên bố chị L được ly hôn anh Tr.
Thứ hai về con chung: Chị L và anh Tr có một người con chung là cháu Cà Thị Nguyệt A, sinh ngày 16/7/2019. Nguyện vọng của chị L sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyệt A đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị L về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Thứ ba: Trong quá trình chung sống chị L và anh Tr không có tài sản chung; Nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có.
Về án phí: Chị L là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị L.
* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lò Thị L được ly hôn anh Cà Văn Tr.
- Con chung: Giao cháu Cà Thị Nguyệt A, sinh ngày 16/7/2019 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Đương sự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện MA. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Ngày 06/5/2022, Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn là anh Cà Văn Tr, anh Tr không có mặt ở nhà, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại buổi hòa giải; ngày 28/6/2022 chị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 22/7/2022, Nguyên đơn là chị L có mặt, bị đơn là anh Cà Văn Tr vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 08/8/2022.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Lò Thị L (có mặt); Bị đơn là anh Cà Văn Tr vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Tr.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 20/4/2022; tại bản khai của chị L ngày 10/5/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị L trình bày và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị L và anh Tr lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/9/2015 tại UBND xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Tr không tu trí làm ăn, thường xuyên rượu chè, cờ bạc, lô đề không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 01/2022 đến nay chị L và anh Tr đã sống ly thân. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Tr đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị L. Tuyên xử cho chị Lò Thị L được ly hôn với anh Cà Văn Tr.
* Về con chung: Chị Lò Thị L và anh Cà Văn Tr có 01 người con chung là cháu Cà Thị Nguyệt A. Chị L có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyệt A đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyệt A còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ và để bảo đảm sự phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần của cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị L về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Chị L và anh Tr không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị L là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị L: Chị Lò Thị L được ly hôn anh Cà Văn Tr.
2. Về con chung: Giao cháu Cà Thị Nguyệt A, sinh ngày 16/7/2019 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyệt A đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Tr có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Đương sự không có, không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị L.
5. Quyền kháng cáo: Chị Lò Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/8/2022). Anh Cà Văn Tr vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - UBND xã AT, h. Mường Ảng - Đương sự; - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Phương |