vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị PTTD được ly hôn anh PTS.

Về án phí: chị PTTD phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000139 ngày 23/5/2022 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (chị D đã nộp đủ án phí). 3. Quyền k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Trúc Diệu và Phan Thanh Sơn ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị PTTD được ly hôn anh PTS.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH
TỈNHQUẢNG TRỊ
Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 22/8/2022
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Vũ Ngọc Châu;

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;

Bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị PTTD, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn An Khê, xã Gio S, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Bị đơn: anh PTS, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2022, biên bản hòa giải và tại phiên tòa chị PTTD trình bày: chị D và anh PTS kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào năm 2019. Sau khi kết hôn anh S đi xuất khẩu lao động một thời gian về sống chung với bố mẹ vợ tại thôn An Khê, xã Gio S. Đến đầu năm 2022, hai vợ chồng về sống tại nhà bố mẹ chồng ở thôn Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, không có tiếng nói chung, không xây đắp được hạnh phúc gia đình. Từ tháng 5/2022 đến nay chị D quay về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thương yêu nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về tình cảm: chị PTTD xin được ly hôn anh PTS.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại nội dung biên bản hòa giải anh PTS trình bày: Vợ chồng anh S, chị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào năm 2019 và mâu thuẩn vợ chồng như chị PTTD trình bày là đúng. Mặc dù, vợ chồng có mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống nhưng anh S vẫn còn tình cảm, vẫn thương yêu đối với chị D nên có nguyện vọng được đoàn tụ vợ chồng xây dựng hạnh phúc gia đình.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh trình bày ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị PTTD và anh PTS là hợp pháp. Mâu thuẩn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận cho chị PTTD được ly hôn anh PTS.

Về con chung: Không có nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: chị PTTD phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ tranh chấp và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị PTTD khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh PTS; trú tại: thôn Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn: anh PTS đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị PTTD và anh PTS là hợp pháp, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 11/02/2019. Sau khi kết hôn anh S đi xuất khẩu lao động một thời gian về hai vợ chồng cùng sống với bố mẹ vợ tại thôn An Khê, xã Gio S, huyện Gio Linh. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp; anh S ham chơi, không lo làm ăn, không quan tâm đến việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Để hàn gắn mâu thuẩn vợ chồng, từ sau tết nguyên đán năm 2022 chị D chuyển về nhà bố mẹ chồng ở thôn Mai Xá, xã Gio Mai sinh sống nhưng mâu thuẩn vợ chồng vẫn không được cải thiện. Do đó, sau khi gửi đơn xin ly hôn, cuối tháng 5/2022 chị D chuyển về nhà bố đẻ sinh sống cho đến nay.

Biên bản xác minh ngày 25/7/2022, tại Trưởng thôn và Chi hội phụ nữ thôn Mai Xá, xã Gio Mai cho biết: mâu thuẩn vợ chồng anh PTS và chị PTTD đã xãy ra từ khi về địa phương sinh sống, chị D hiện về sống với bố mẹ đẻ ở xã Gio S. Nay chị D xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Anh PTS có nguyện vọng xin được đoàn tụ nhưng anh S không có biện pháp cũng như hành động để hàn gắn mẫu thuẩn vợ chồng. Không tham gia phiên xét xử vụ án ngày hôm nay.

HĐXX thấy rằng: Tình cảm vợ chồng của chị D và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị PTTD được ly hôn anh PTS.

Về con chung: Không có nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: chị PTTD phải chịu án ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản; 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị PTTD được ly hôn anh PTS.

2. Về án phí: chị PTTD phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000139 ngày 23/5/2022 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (chị D đã nộp đủ án phí). 3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.

Cỡ chữ