- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N xin ly hôn P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đổng Thị Bích N và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-3-2022 V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Tâm, bà Võ Thị Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 329/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đổng Thị Bích N, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp 2, xã BHT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp BPL, xã BHT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Đổng Thị Bích N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị N và anh P tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 mà không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng thời gian sau thì anh P thay đổi tính tình, không chí thú làm ăn để lo kiếm tiền nuôi con mà chỉ lo ăn chơi, cờ bạc. Thương con nên chị nhẫn nhịn khuyên nhủ nhưng anh P không nghe mà con lớn tiếng và hành hung chị. Cuối năm 2020, chị đã cùng 02 con về nhà cha mẹ ruột cất nhà sinh sống cho đến nay, nhiều lần anh P đến năn nỉ để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị cũng đã cho anh P cơ hội sửa sai. Tuy nhiên, anh P vẫn không sửa đổi tính tình.
Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị với anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.
- Về con chung: Chị N xác định giữa chị và anh P có 02 con chung gồm Đổng Thị Mây T, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Trường G, sinh ngày 12/11/2018. Hiện nay con chung đang sống cùng chị N.
Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh P.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm Bản sao Giấy khai sinh Đổng Thị Mây Trắng và Bản sao Trích lục khai sinh Nguyễn Trường Giang. Tòa án đã thông báo cho bị đơn biết các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp nhưng bị đơn vẫn không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định;
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn Nguyễn Văn P hiện đang cư trú tại xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Đổng Thị Bích N có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Đổng Thị Bích N và bị đơn anh Nguyễn Văn P.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đổng Thị Bích N thừa nhận tìm hiểu và chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Văn P từ năm 2009 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật để được công nhận là vợ chồng. Xét thấy, chị N và anh P có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật, đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Nay, cuộc sống chung giữa chị N và anh P phát sinh mâu thuẫn, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh P là vợ chồng; Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn P, Tòa án đã nhiều lần triệu tập đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm, nhưng anh P không đến tham dự. Như vậy đã cho thấy anh P đã bỏ mặc, không còn quan tâm gì đến mối quan hệ với chị N. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận chị Đổng Thị Bích N và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.
Về con chung: Chị N xác định giữa chị và anh P có 02 con chung tên Đổng Thị Mây T, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Trường G, sinh ngày 12/11/2018. Hiện nay các con chung đang sống cùng chị N, khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Theo nguyện vọng của con chung Đổng Thị Mây Trắng là được sống với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị N và anh P không còn sống chung đến nay thì chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, đảm bảo cho các con chung có điều kiện phát triển tốt nhất về mọi mặt. Nhằm đảm bảo cho con chung ổn định cuộc sống, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được nuôi con của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Đổng Thị Bích N phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đổng Thị Bích N và anh Nguyễn Văn P là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao các con chung gồm Đổng Thị Mây T, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Trường G, sinh ngày 12/11/2018 cho chị Đổng Thị Bích N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Đổng Thị Bích N phải chịu, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007027 ngày 01/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị N đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND HCL; - Đương sự; - Tòa án Tỉnh; - CC THADS HCL; - Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN Hồ Thị Mai Hương - Võ Thị Điệp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Trường Chinh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |