- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp dồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2022/DS-ST Ngày: 20/01/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Viễn Tú
2. Bà Đàm Thu Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà
Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2021/TLST-DS
ngày 27 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2021,
Quyết định hoãn phiên tòa 68/2021/QĐST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2021,
Thông báo về việc dời thời gian mở phiên tòa ngày 100/TBTA ngày 31/12/2021
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP TT (SK); địa chỉ: lầu 8, số 266-268
đường KN, phường VS, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt);
Người đại diện hợp pháp: Ồng Bùi Văn N, sinh năm: 1978; địa chỉ: 28/20
Đường X, Khu phố Y, phường M, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người
đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1579/2020/GUQ-CNTĐ ngày
30/9/2020).
2. Bị đơn: Tống Thị Thanh T, sinh năm: 1992; địa chỉ: 448/1 đường T,
Phường O, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nhận được ngày 12/10/2020, các bản tự khai của nguyên
đơn ông Bùi Văn N là đại diện hợp pháp của nguyên đơn, trình bày:
Ngày 25/12/2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT (sau đây gọi tắt là
Ngân hàng) và bà Tống Thị Thanh T ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Theo Hợp đồng, Ngân hàng cấp cho bà Tống Thị Thanh T thẻ tín dụng có hạn mức là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Tống Thị Thanh T đã thực hiện các giao
dịch với tổng số tiền là 30.820.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 19.829.000 đồng.
Do bà Tống Thị Thanh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, và qua nhiều lần
nhắc nợ nhưng bà T vẫn không thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng, đến ngày 22/4/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, tính đến ngày 30/9/2020 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 19.509.792 đồng (mười chín triệu, năm trăm lẻ chín nghìn, bảy trăm trăm chín mươi hai đồng), bao gồm số tiền nợ gốc là 16.133.139 đồng và lãi quá hạn là 3.376.653 đồng.
Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu yêu cầu buộc bà Tống Thị Thanh T
phải thanh toán ngay một lần số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2020 là 19.509.792 đồng và yêu cầu bà Tống Thị Thanh T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/9/2020 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất vay quy định tại hợp đồng đã ký kết.
* Đối với bị đơn bà Tống Thị Thanh T: Trong quá trình giải quyết vụ án bà
Tống Thị Thanh T không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCP TT.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn yêu cầu bà Tống Thị Thanh T phải trả
số nợ còn thiếu trong việc thực hiện hợp đồng thẻ tín dụng tính đến ngày 20/01/2022 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 29.513.913 đồng (hai mươi chín triệu, năm trăm mười ba nghìn, chín trăm mười ba đồng), bao gồm số tiền nợ gốc là 16.133.139 đồng và lãi quá hạn là 13.380.774 đồng. Yêu cầu bà Tống Thị Thanh T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/01/2022 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký kết.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy
định pháp luật. Tuy nhiên thẩm phán đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hợp đồng ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng
vay tài sản do các bên tự nguyện thỏa thuận. Việc bà Tống Thị Thanh T không thực hiện việc trả nợ đúng kỳ hạn là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Tống Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng TMCP TT với số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá
hạn đến ngày xét xử sơ thẩm. Ngoài ra, bà Tống Thị Thanh T còn phải tiếp tục
trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày tiếp theo sau khi xét xử cho đến
khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng
đã ký kết. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có
nhận định:
Về tố tụng:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT và bà Tống Thị
Thanh T là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 26 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn là bà Tống Thị Thanh T có nơi cư
trú cuối cùng là Quận 11, nên căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm
a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11.
* Về người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Tống Thị Thanh T đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên cả hai lần hòa giải và đến phiên tòa xét xử lần thứ ba, bà T vẫn vắng
mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân
sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu nguyên đơn:
Về khoản nợ gốc: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của nguyên
đơn cung cấp: Ngày 25/12/2018 bà Tống Thị Thanh T có ký với Ngân hàng
Thương mại Cổ phần TT hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề
nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát
hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là
Hợp đồng) với hạn mức sử dụng được cấp là 15.000.000 đồng, với mục đích
tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã sử dụng thẻ tín
dụng của Ngân hàng SK để thanh toán các khoản giao dịch với tổng tiền là
30.820.000 đồng đồng, do đó xác định đây là hợp đồng vay tài sản thông qua
hình thức sử dụng thẻ tín dụng mà bà T đã ký kết với ngân hàng.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua các bảng sao kê và bản tự khai ngày
16/11/2021, 31/12/2021 và ngày 20/01/2022 đã thể hiện bà T đã thanh toán cho
Ngân hàng số tiền là 19.829.000 đồng. Do từ ngày 22/02/2020 đến ngày
22/04/2020 bà T đã liên tục 03 tháng không thanh toán nợ nên Ngân hàng đã
chấm dứt hợp đồng.
Bà Tống Thị Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 21 và của
Bản Điều Khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Việc Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn căn cứ theo theo Điều 26.4 của Bản Điều Khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng: “Sau 75 ngày kể từ ngày lập thông báo giao dịch hoặc sau 03 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp, nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn số tiền giao dịch tối thiểu SK sẽ chấm dứt quyền sử dụng của Chủ thẻ và tiến hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015 quy định: “ Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 16.133.139 chốt đến ngày 22/04/2020 qua các bảng sao kê ngày 16/11/2021, 31/12/2021, 20/01/2022 là có căn cứ nên chấp nhận.
Xét về lãi vay: Ngày 25/12/2018 bị đơn ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng
kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng và đồng ý mức lãi suất theo Quyết định số 2524/2020/QĐ-TTT ngày 24/8/2020 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ SK phát hành tại Việt N của Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT quy định lãi suất thẻ tín dụng cá nhân là 2,6%; Ngày 22/02/2020 bị đơn đã vi phạm lịch trả trả nợ căn cứ vào Điều 26 của Điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT ban hành đã quy định việc chuyển nợ quá hạn “26.1. Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ ngày thứ mười của kỳ thông báo giao dịch lần thứ hai thì toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng sẽ chuyển sang nợ quá hạn...
a) Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ số nợ;
b)Áp dụng lãi suất nợ quá hạn phù hợp với Khoản 27 Điều 1 đối với
toàn bộ Dư nợ theo quy định của SK…. ”. Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điểm c Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt N và Khoản 2 Điều 22 Quyết định số 04/VBHN-NHNN ngày 24/4/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Ban hành quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ngân hàng, buộc bà T thanh toán số tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc tính đến ngày 22/04/2020 là 16.133.139 đồng (theo bảng tính lãi ngày 16/11/2021, 31/12/2021, 20/01/2022) và thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn, buộc bà Tống Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền với tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày tính đến ngày 20/01/2022 số tiền là 29.513.913 đồng (hai mươi chín triệu, năm trăm mười ba nghìn, chín trăm mười ba đồng), bao gồm số tiền nợ gốc là 16.133.139 đồng và lãi quá hạn là 13.380.774 đồng.
Ngoài ra còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/01/2022 cho
đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký kết.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của Ngân hàng Cổ phần TTđược chấp nhận nên
bị đơn bà Tống Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.475.696
đồng.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 487,745 (bốn trăm tám mười
bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần
TTtheo biên lai số AA/2019/0058086 ngày 30/10/2020 của Chi cục thi hành
án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1
Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015
- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 22 Quyết định số 04/VBHN-NHNN ngày
24/4/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt N về Ban hành quy chế phát hành,
thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT,
buộc bà Tống Thị Thanh T phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng
Thương mại Cổ phần TT số tiền nợ tính đến ngày 20/01/2022 là số tiền là
29.513.913 đồng (hai mươi chín triệu, năm trăm mười ba nghìn, chín trăm
mười ba đồng), bao gồm số tiền nợ gốc là 16.133.139 đồng và lãi quá hạn là
13.380.774 đồng.
Bà Tống Thị Thanh T phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tiếp tục phát
sinh kể từ ngày 21/01/2022 trên số dư nợ gốc cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2018 được ký kết giữa bà Tống Thị Thanh T và Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Tống Thị Thanh T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 1.475.696 đồng
(một triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm chín mươi sáu) đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 487.745 (bốn trăm tám mười
bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT theo biên lai số AA/2019/00058086 ngày 30/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TANDTP. HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục TH DS Quận 11; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lại Thị Thu Thủy |