vanban.org

Bản án 14/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/ DS-ST
Ngày 26/9/2022
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đức Quảng

2. Bà Nguyễn Thị Kim Trình

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST - DS ngày 05 tháng 9 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2022/QĐST/DS ngày 16/9/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn Tuyền – Sinh năm 1988

Địa chỉ: Xóm Đồng Lão, xã Thục Luyện, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Hà Văn Trọng – Sinh năm 1972

Địa chỉ: Xóm Trại, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(Anh Tuyền có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trọng vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn trình bày:

Ngày 21/11/2018 anh Hà Văn Trọng có vay của anh Lê Văn Tuyền số tiền 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Khi vay anh Trọng có viết giấy vay tiền, ký tên điểm chỉ. Để làm tin anh Trọng có cung cấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hà Văn Thuận (bố đẻ anh Trọng đã ủy quyền cho mẹ anh Trọng là bà Hà Thị Tình và bà Tình đã chuyển nhượng cho anh Trọng). Sau đó anh Trọng có nhu cầu vay vốn chỗ khác nên anh Tuyền đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho anh Trọng. Khi vay hai bên không có thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ. Sau khi vay anh Tuyền đã đòi nhiều lần nhưng anh Trọng chưa trả khoản tiền nào, nay anh Tuyền đề nghị Tòa án buộc anh Trọng trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất của Ngân hàng là 1%/tháng.

Quan điểm của anh Trọng: Anh Trọng cũng thừa nhận việc vay tiền của anh Tuyền như anh Tuyền trình bày. Sau khi vay anh Trọng đã trả được một số tiền lãi, trả được bao nhiêu và thời gian trả như thế nào thì anh Trọng không ghi chép, cũng không có giấy tờ gì chứng minh và anh Trọng không nhớ, nay anh Tuyền đề nghị Tòa án buộc anh Trọng trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay đến nay theo quy định của pháp luật anh Trọng nhất trí trả số tiền nợ gốc, do hoàn cảnh khó khăn nên anh Trọng xin được trả dần, còn tiền lãi anh Trọng xin không trả nữa.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, Điều 71của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền. Buộc anh Hà Văn Trọng phải trả cho anh Lê Văn Tuyền số tiền nợ gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày anh Tuyền nộp đơn khởi kiện là ngày 06/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Hà Văn Trọng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng: Các đương sự tranh chấp về việc vay tài sản, xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn anh Hà Văn Trọng có hộ khẩu thường trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xác định yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Về việc vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa Kiểm sát viên không có ý kiến gì về sự vắng mặt các đương sự nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền thấy rằng:

Cả anh Tuyền và anh Trọng đều khẳng định ngày 21/11/2018 anh Hà Văn Trọng có vay của anh Lê Văn Tuyền số tiền 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Khi vay anh Trọng có viết giấy vay tiền, ký tên điểm chỉ. Để làm tin anh Trọng có giao cho anh Tuyền 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hà Văn Thuận (bố đẻ anh Trọng đã ủy quyền cho mẹ anh Trọng là bà Hà Thị Tình và bà Tình đã chuyển nhượng cho anh Trọng). Sau đó anh Trọng có nhu cầu vay vốn chỗ khác nên anh Tuyền đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho anh Trọng. Khi vay hai bên không có thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ. Theo anh Trọng là có trả lãi nhưng không biết đã trả bao nhiêu lần và bao nhiêu tiền. Như vậy xác định đây là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn, không có lãi suất.

Nay anh Tuyền yêu cầu Tòa án buộc anh Trọng phải trả cho anh Tuyền toàn bộ số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay cho đến nay là 1%/tháng.

Anh Trọng nhất trí trả số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh Trọng xin được trả dần, còn tiền lãi anh Trọng không đồng ý trả nữa.

HĐXX thấy rằng: Về nợ gốc, yêu cầu của anh Tuyền là có căn cứ cần buộc anh Hà Văn Trọng có trách nhiệm trả cho anh Tuyền toàn bộ số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng. Về lãi xuất, anh Tuyền yêu cầu anh Trọng trả lãi phát sinh tính từ ngày viết giấy vay nợ đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1%/tháng là không có căn cứ, vì đây là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn, không có lãi suất nên chỉ chấp nhận một phần và buộc anh Trọng trả tiền lãi cho anh Tuyền kể từ ngày anh Tuyền nộp đơn khởi kiện là ngày 06/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 (10%/1 năm) là phù hợp quy định tại Điều 466 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 NQ 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Như vậy thời gian anh Trọng phải trả lãi cho anh Tuyền là 03 tháng 20 ngày. Lãi xuất là 0,8333%/tháng. 30.000.000đ x 0,8333% x 03 tháng 20 ngày)

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được chấp nhận.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Do yêu cầu của anh Tuyền được chấp nhận nên anh Trọng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 357, Điều 463, Điều 466, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tuyền. Buộc anh Hà Văn Trọng phải trả cho anh Lê Văn Tuyền số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và 916.000đ (Chín trăm mười sáu nghìn đồng) tiền lãi (30.000.000đ x 0,833% x 03 tháng 20 ngày). Tổng cả gốc và lãi anh Trọng phải trả cho anh Tuyền là 30.916.000đ, (Ba mươi triệu chín trăm mười sáu nghìn đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho anh Lê Văn Tuyền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006838 ngày 7/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Buộc anh Hà Văn Trọng phải nộp số tiền 1.545.800đ (Một triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. "Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ