vanban.org

Bản án 14/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Ích T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 số tiền: 1.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020. Trong trư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Việt Nam T- Nguyễn Ích T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Ích T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 số tiền: 1.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 14/2022/DS-ST
Ngày: 18 - 5 - 2022.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng,

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Dương Đức Bản

Bà: Phan Thị Lan Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga - Thư ký TAND Thành phố Đồng Hới.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022; tại Trụ sở TAND thành phố Đồng Hới mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2021/TLST - DS ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-DS ngày 06/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2022/QĐST-DS ngày 26/4/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T (V Bank); Địa chỉ: Số x L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Phó giám đốc Trung tâm Xử lý nợ pháp lý. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đào Tùng L - Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: Số x T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ích T, sinh năm 1984. Nơi ĐKHK thường trú: Thôn V, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạm trú: Số y L, TDP Đ, phường Đ, TP. Đ, Quảng Bình. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2021, bản tự khai ngày 09/11/2021 và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam T (sau đây viết tắt là V Bank) trình bày:

Ông Nguyễn Ích T có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam T - Chi nhánh Quảng Bình - Phòng giao dịch B. Địa chỉ: Số x Q, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 với các nội dung cụ thể như sau:

- Số tiền vay: 940.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm bốn mươi triệu đồng chẵn);

- Thời hạn vay: 84 tháng kể từ ngày 29/12/2020 đến 29/12/2027.

- Các kỳ hạn trả nợ: Trả gốc và lãi mỗi tháng 1 lần vào ngày mồng 05 hàng tháng, số tiền gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 11.191.000 đồng riêng kỳ cuối cùng trả hết nợ vay. Kỳ trả gốc và lãi đầu tiên vào ngày 05/02/2021.

- Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô.

- Lãi suất trong hạn: 9%/năm. Lãi suất này cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 29/12/2020. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm. Mức điều chỉnh và kỳ điều chỉnh được quy định trong hợp đồng cho vay.

- Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% nợ trong hạn.

- Phạt chậm trả lãi: Theo quy định trong hợp đồng cho vay.

- Biện pháp bảo đảm tiền vay: Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Xe ô tô VINFAST, số khung 1RSFLV002382, số máy 70028VF20SED, biển kiểm soát: 75A-XXX.XX, mang tên ông Nguyễn Ích T, theo giấy đăng ký xe ô tô số 037150 do công an tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 23/12/2020. Thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Ích T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V Bank từ ngày 05/3/2021 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Tạm tính đến ngày 09/11/2021, ông Nguyễn Ích T còn nợ VPBank số tiền là:

- Nợ gốc:

928.573.443 đồng

- Nợ lãi:

95.174.615 đồng

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xuất trình bảng kê tính lãi tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/5/2022), yêu cầu ông Nguyễn Ích T phải trả cho V bank, số tiền: 1.116.894.737 đồng, trong đó:

+ Nợ gốc:

928.573.443 đồng

+ Lãi trong hạn, quá hạn lũy kế phải trả: 176.324.950 đồng.

+ Lãi chậm trả lãi:

11.996.344 đồng

Buộc ông Nguyễn Ích T tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh (theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng) kề từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày ông Nguyễn Ích T thực tế thanh toán hết nợ cho VPBank.

Trường hợp ông Nguyễn Ích T không thanh toán nợ theo yêu cầu của VPBank nêu trên thì V Bank có quyền tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo(theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020) khoản vay của ông Nguyễn Ích T để thu hồi nợ, cụ thể là: Xe ô tô VINFAST, số khung 1RSFLV002382, số máy 70028VF20SED, biển kiểm soát: 75A-XXX.XX, mang tên ông Nguyễn Ích T, theo giấy đăng ký xe ô tô số 037150 do Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 23/12/2020.

* Tại bản tự khai ngày 07/12/2021 bị đơn ông Nguyễn Ích T trình bày: Vào tháng 12/2020 ông T có mua 01 xe ô tô BKS 75A-XXX.XX với số tiền 1.179.000.000 đồng, ông T thế chấp xe ô tô để vay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T (V Bank) 80% số tiền mua xe (940.000.000 đồng). Ông T trả được số tiền gốc và lãi phát sinh là 20.000.000 đồng thì dịch bệnh bùng phát từ tháng 3-8/2021 không kinh doanh được do thực hiện chỉ thị 15 và 16 của nhà nước nên không có tiền trả gốc và lãi theo quy định tại hợp đồng. Đến tháng 9/2021 ông Thảo có đến V Bank chi nhánh B và đến tại V Bank Chi nhánh Quảng Bình để xin trả nợ gốc và lãi đến hạn của các tháng nói trên và xin trả hàng tháng từng kỳ tiếp theo như ban đầu hợpđồng vay vốn nhưng Ngân hàng không đồng ý. Ngân hàng yêu cầu ông T một là giao cho Ngân hàng hai là bán xe để trả nợ tất toán cho Ngân hàng; nhưng do xe mới mua do dịch bệnh không kinh doanh được nếu bán thì lổ rất nhiều, ban thân ông T cũng phải vay mượn rất nhiều mua chiếc xe kinh doanh nên rất khó khăn. Đề nghị Tòa án và V Bank tạo điều kiện cho ông trả khoản gốc và lãi đến hạn và xin miễn lãi phạt, để ông giữ lại chiếc xe trên tiếp tục kinh doanh trả nợ cho Ngân hàng.

* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã gửi thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đối với bị đơn đến Toà để giải quyết vụ án, ông Nguyễn Ích Thảo đã đến Tòa để tự khai, thừa nhận việc vay và nợ; nhưng sau đó Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cho ông Nguyễn Ích T nhưng ông T đều vắng mặt không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Toà án không thể tiến hành hoà giải cũng như không thể thực hiện xem xét thẩm định tài sản thế chấp.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

1. Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập bị đơn đến phiên tòa nhưng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Do vắng mặt bị đơn Toà án đã hoãn phiên toà lần thứ nhất (ngày 26/4/2022) theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định hoãn phiên toà có ấn định thời gian mở lại phiên toà đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng ông T vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Xét Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 được hai bên tự nguyện thỏa thuận, ký kết trên cơ sở đề nghị vay vốn của ông Nguyễn Ích T được Ngân hàng TMCP Việt Nam T chấp thuận và giải ngân số tiền 940.000.000 đồng cho ông T; mục đích cho vay mua xe ô tô kinh doanh.

Thời hạn cho vay là 84 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay (ngày 29/12/2020 đến 29/12/2027). Các kỳ hạn trả nợ: Trả gốc và lãi mỗi tháng 1 lần vào ngày mồng 05 hàng tháng, số tiền gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 11.191.000 đồng riêng kỳ cuối cùng trả hết nợ vay. Kỳ trả gốc và lãi đầu tiên vào ngày 05/02/2021.

Lãi suất trong hạn: 9%/năm. Lãi suất này cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 29/12/2020. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được Bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + (cộng) biên độ 4,4%/năm. Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% nợ trong hạn. Lãi suất chậm trả áp đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Ích T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank không trả nợ gốc và lãi theo đúng phân kỳ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng, ông Thảo mới trả cho Ngân hàng 1 kỳ; kể từ ngày 05/3/2021 ông Thảo đã không trả nợ gốc và lãi theo đúng các kỳ hạn, nên toàn bộ nợ gốc đã bị Ngân hàng tính lãi quá hạn, tính đến hết ngày 18/5/2022 số tiền gốc còn nợ: 928.573.443 đồng; Lãi trong hạn, quá hạn lũy kế phải trả:178.324.950 đồng; Lãi chậm trả lãi: 11.996.344 đồng.

Toàn bộ khoản vay đã quá hạn kể từ ngày 05/3/2021, nên Nguyên đơn khởi kiện đòi toàn bộ nợ gốc và lãi là có căn cứ. Yêu cầu đòi nợ gốc và lãi đều trong thời hiệu khởi kiện. Cần áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015 để xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc ông Nguyễn Ích T phải trả cho VPBank, số tiền: 1.116.894.737 đồng, trong đó:

+ Nợ gốc:

928.573.443 đồng

+ Lãi trong hạn, quá hạn lũy kế phải trả: 176.324.950 đồng.

+ Lãi chậm trả lãi:

11.996.344 đồng

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm ông Thảo còn tiếp tục phải trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho VPbank.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Xe ô tô VINFAST, số khung 1RSFLV002382, số máy 70028VF20SED, biển kiểm soát: 75A-XXX.XX, mang tên ông Nguyễn Ích T, theo giấy đăng ký xe ô tô số 037150 do công an tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 23/12/2020. Thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng ngày 28/12/2020 theo đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp Ông Nguyễn Ích T không trả được nợ tại Hợp đồng tín dụng số LD1428200199 ngày 09/10/2014 thì Ngân hàng TMCP Việt Nam T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại các Điều 116, 117, 119, 275, 292, 299, 317, 318, 319, 320, 323, của Bộ luật Dân sự 2015;

Về án phí sơ thẩm: Toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng 2010; các Điều 116, 117, 119, 275, 292, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Ích T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020 số tiền: 1.116.894.737 đồng (trong đó: Số tiền gốc còn nợ: 928.573.443 đồng; Lãi trong hạn, quá hạn lũy kế phải trả: 176.324.950 đồng; Lãi chậm trả lãi: 11.996.344 đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2012093122590 ngày 29/12/2020.

3. Trong trường hợp Ông Nguyễn Ích T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nói trên thì Ngân hàng TMCP Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là: Xe ô tô VINFAST, số khung 1RSFLV002382, số máy 70028VF20SED, biển kiểm soát: 75A-XXX, mang tên ông Nguyễn Ích T, theo giấy đăng ký xe ô tô số 037150 do Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 23/12/2020.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Ích T phải chịu 45.506.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí là 13.499.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 31AA/2021/0001020 ngày 25/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Đồng Hới.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ