- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/DS-ST Ngày 01/4/2022 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lan
2. Bà Nguyễn Thị Mý
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2021/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần A
Địa chỉ: 130 Phan Đăng Lưu, quận P, TP. H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ Tổng Giám đốc.
Người được uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Văn M– Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Gia Lai.
Địa chỉ: 01 Phạm Văn Đồng, phường T, thành phố P, tỉnh G.
Người được uỷ quyền lại: Ông Trần Trung H – Nhân viên Phòng phát triển kinh doanh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N.
Địa chỉ: Thôn 4, xã Ia K, huyện G, tỉnh G
Ông Ngô Duy L có mặt. Bà Nguyễn Thị N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP A cho bị đơn vay 80.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số N0665/118 ngày 09/8/2018 với thời hạn 12 tháng, lãi suất 11%/năm, quá hạn 16,5%/năm để đầu tư chăn nuôi. Bị đơn có thế chấp tài sản gồm: diện tích 4.294m2 đất tại các thửa số 10 + 18 + 20 +23 +24, tờ bản đồ 63 tại xã K theo giấy bìa đỏ số W 165862 do UBND huyện G cấp ngày 23/9/2002, được chỉnh lý ngày 08/6/2016.
Trong quá trình vay ngày 09/8/2018 đến ngày 09/8/2019 bị đơn đã trả được 4.500.000đ lãi trong hạn. Đến ngày 10/8/2019 bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 01/4/2022 thì bị đơn còn nợ nguyên đơn 80.000.000đ tiền nợ gốc, lãi trong hạn là cọn lại là 4.300.000đ, lãi quá hạn là 34.934.795đ, tổng cộng là 119.234.795đ.
Nay nguyên đơn đề nghị bị đơn thanh toán tiền gốc và lãi như trên cho nguyên đơn và tiền lãi phát sinh đến khi Toà án giải quyết xong. Nếu bị đơn không trả nợ đầy đủ thì đề nghị Toà án xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do, cũng không có ý kiến trình bày gửi cho Toà án.
Ông Ngô Duy L trình bày: ông và bà Nguyễn Thị N đã nhận được giấy triệu tập của Toà án để tham gia phiên toà, tuy nhiên bà N do bận công việc nên không thể tham gia tố tụng tại Toà án và cũng không có văn bản uỷ quyền cho ông. Về việc ngân hàng khởi kiện thì ông công nhận có vay của ngân hàng tiền gốc và còn nợ lại tiền lãi như ngân hàng khởi kiện là đúng. Tuy nhiên nay do hoàn cảnh khó khăn ông và bà Nguyệt chưa có để trả cho Ngân hàng, đề nghị Ngân hàng xem xét tạo điều kiện để vợ, chồng ông vay nơi khác trả.
Phát biểu quan điểm, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 và khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 288, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải liên đới trả nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng là như nguyên đơn đã khởi kiện là 119.234.795đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí và xử lý tiền chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Ngân hàng TMCP A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N để yêu cầu trả số nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng. Ngoài ra Ngân hàng còn yêu cầu Toà án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Do vậy đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Hợp đồng tín dụng số N0665/118 ngày 09/8/2018 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Khi đến hạn trả nợ ngày 09/8/2019 bị đơn không trả nợ gốc và trả đầy đủ tiền lãi cho nguyên đơn như đã thoả thuận là vi phạm về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, nên ngày 07/6/2021 nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc 80.000.000đ theo hợp đồng tín dụng nói trên là có căn cứ.
. Về yêu cầu trả nợ lãi trong hợp đồng tín dụng: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên trong hợp đồng tín dụng nêu trên (lãi trong hạn 11%/năm, lãi quá hạn = 16,5%) là phù hợp với quy định của Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi trong đó có xác định rõ lãi trên nợ gốc trong hạn còn lại chưa trả, lãi quá hạn chưa trả trả tương ứng với thời hạn vay và trả nợ phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 01/4/2022, bị đơn còn nợ của nguyên đơn tiền lãi trong hạn là 4.300.000đ và lãi quá hạn từ ngày 10/8/2019 đến ngày 01/4/2022 là 34.934.795đ như đại diện phía nguyên đơn trình bày là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật về lãi suất.
Như vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 80.000.000đ tiền nợ gốc, lãi trong hạn còn lại là 4.300.000đ và lãi quá hạn là 34.934.795đ, tổng cộng là 119.234.795đ.
. Về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NC 8341/HĐTC ngày 26/7/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng số NC8341/HĐTC-01/2018/PLHĐ ngày 09/8/2018 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp và không có tranh chấp; tài sản trên thực tế phù hợp với các nội dung của hợp đồng thế chấp và đã được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng nói trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp (bao gồm cả quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thời điểm xử lý) để thu hồi nợ.
. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện Ngân hàng đã đã tạm nộp tiền chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ là 4.000.000đ. Số tiền trên đã chi đủ cho cho công việc thẩm định. Căn cứ vào điều 157 và 158 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí là 4.000.0000đ. Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn 4.000.000đ chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ.
. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sơ thẩm là 119.234.795đ x 5% = 5.961.739đ
Trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 và khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 288, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A.
2. Ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A tiền nợ gốc là 80.000.000đ, lãi trong hạn còn lại là 4.300.000đ, lãi quá hạn là 34.934.795đ. Tổng cộng là 119.234.795đ (một trăm mười chín triệu hai trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/4/2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
3. Trong trường hợp ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các thửa đất số 10 + 18 + 20 +23 +24, tờ bản đồ 63, địa chỉ xã Ia K theo giấy CNQSD đất số W 165862 do UBND huyện Ia G cấp ngày 23/9/2002, được chỉnh lý ngày 08/6/2016.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N phải liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
- Ông Ngô Duy L và bà Nguyễn Thị N phải liên đới chịu 5.961.739đ (năm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước;
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A toàn bộ số tiền đã tạm nộp là 2.700.596đ (hai triệu bảy trăm nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0012107 ngày 16/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Toà án tỉnh; - VKSND huyện; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Chí Công |