vanban.org

Bản án 14/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Mh.

Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc B phải có ghĩa vụ trả cho anh Lê Mh số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) 2/ Về án phí: Buộc anh Nguyễn Ngọc B phải nộp 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Lê Mh số tiền 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dâ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "HỢP ĐỒNG MUA BÁN"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Mh.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 430 Bộ luật Dân sự; Điều 440 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂNDÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/DS - ST
Ngày: 09/3/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thanh Khen

2. Ông Huỳnh Anh Dũng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Hồ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2021/TLST - DS, ngày 23 tháng 12 năm 2021 về “ Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXX – ST ngày 14/02/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Lê Mh, sinh năm 1976

HKTT: chung cư An Phú. Số 961-973/1, đường Hậu Giang, phường

11, quận 6, thành phố Hồ Chí Mh.

Địa chỉ: ấp Phú Trường Yên, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp Thạnh Phú, xã Thạnh Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh

Long.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Mh trình bày:

Trước đây tôi có bán cho anh B một con xe cuốc, với giá 1tỷ đồng, tôi đã giao xe cho anh B, nhưng anh B chưa thực hiện việc trả tiền mua xe cho tôi. Tôi đã nhiều lần yêu cầu B trả tiền, trả xe nhưng b không thực hiện. Nay tôi yêu cầu B đem xe về khi định giá xe, giá trị chiếc xe bao nhiêu, phần còn lại do chênh lệch giá, B phải có nghĩa vụ trả tiếp cho tôi số tiền còn lại cho đủ số tiền một tỷ đồng.

Nay tôi yêu cầu anh B phải có nghĩa vụ trả tôi số tiền một tỷ đồng, không yêu cầu trả lãi. Tôi không đồng ý, ý kiến của anh B về việc trả dần hàng tháng là 10.000.000đồng. Tôi yêu cầu B phải trả tôi số tiền 50.000.000đồng một tháng cho đến khi hết số tiền một tỷ đồng.

Số tiền 175.000.000đồng là tiền B trả tôi tiền thuê xe vì B mua xe lâu quá không trả tiền nên B đã làm hợp đồng thuê xe của tôi.

Tôi yêu cầu chị Yến phải có nghĩa vụ liên đới cùng Anh B trả tôi số tiền một tỷ đồng. Tôi sẽ sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và nộp lại cho toà án chậm nhất là ngày 10/02/2022.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc B trình bày: Tôi mua xe của anh Mh nhưng do tài chính không đủ, tôi chỉ có 250.000.000đồng phần còn lại anh Mh hứa sẽ hổ trợ nên tôi mới lấy xe. Tôi đã nhận xe của anh Mh về sử dụng, tôi cho người ta thuê lại nhưng trong quá trình xe cho thuê thì xe hư liên tục, người thuê xe không làm được nên, người thuê không đồng ý trả tiền thuê xe. Trong thời gian mua xe tôi có chuyển cho anh số tiền 35.000.000đồng. Chị Yến chuyển cho anh Mh số tiền 50.000.000đồng, vợ tôi có chuyển cho anh số tiền 90.000.000đồng. Tổng cộng tôi có đưa cho anh Mh số tiền 175.000.000đồng. anh Mh lấy xe lại tôi cũng đồng ý, sau khi định giá nếu giá trị xe thấp quá tôi yêu cầu anh Mh giảm giá cho tôi.

Tôi hoàn toàn không biết việc chị Yến là người b lãnh với anh Mh để anh Mh bán xe cho tôi. Tôi yêu cầu anh Mh phải hỗ trợ tôi lấy xe về, vì hiện nay xe tôi đang cho thuê ở một dự án, mà người tôi cho thuê không còn ở đó nên tôi không lấy xe về được.

Anh Mh yêu cầu tôi trả số tiền 1.000.000.000đồng thì tôi đồng ý, nhưng hiện nay công ty của tôi gặp khó khăn về kinh tế nên tôi chỉ có khả năng trả cho anh Mh số tiền 10.000.000đồng/tháng cho đến khi đủ số tiền một tỷ đồng.

Ý kiến nguyên đơn tại toà : Tôi có bán cho B một chiếc xe cuốc đã củ giá 1.050.000.000đồng. B chỉ trả cho tôi 50.000.000đồng. Hai bên làm hợp đồng giá một tỷ nhưng B không trả tiền cho tôi, sau đó mới làm hợp đồng thuê xe một tháng 35.000.000đồng B trả tiền thuê xe được 175.000.000đồng sau đó không trả tiền thuê xe nên tiếp tục làm hợp đồng vay tiền nhưng đến nay B vẫn không trả. Nay tôi yêu cầu B trả lại cho tôi số tiền một tỷ đồng. Tôi không hứa hẹn vay, mượn tiền hay trả nợ gì cho B cả.

Ý kiến bị đơn tại toà: Tôi thừa nhận hiện nay còn nợ anh Mh số tiền một tỷ đồng. Nhưng khi mua xe anh Mh có hứa sẽ hổ trợ tôi vay tiền, vì lúc đó tôi nói tôi không có đủ tiền. Vì lời hứa của anh Mh nên tôi mới mua xe. Nay tôi đồng ý trả anh Mh số tiền một tỷ đồng nhưng xin trả dân mỗi tháng là 20.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu coù trong hoà sô vuï aùn ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa vaø caên cöù vaøo keát quả tranh luaän taïi phieân toøa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh.

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với chị Lê Thị Hải Yến trước khi Tòa án đưa vụ án ra xé xử nguyên đơn anh Lê Mh đã xác định chị Lê Thị Hải Yến không có quyền và nghĩa vụ trong vụ kiện của anh đối với B. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét quyền và nghĩa vụ của chị Lê Thị Hải Yến trong cùng vụ án.

[2] Về nội dung:

Tại tòa nguyên đơn, bị đơn thống nhất số nợ của bị đơn đối với nguyên đơn là một tỷ đồng. Số nợ này là số tiền phải trả cho hợp đồng mua bán xe cuốc theo hợp đồng các bên đã thừa nhận là ngày 15/7/2009 (Vì trong hợp đồng không có ghi ngày, tháng, năm.)Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu xin trả dần của anh B anh Mh không đồng ý, pháp luật cũng không quy định trả nợ dần, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.

Về án phí: Do yêu càu khởi kiện của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí được tính như sau:

1.000.000.000đồng=(36.000.000+3%x200.000.000đ)=42.000.000đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự

Căn cứ các Điều 430, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Mh.

Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc B phải có ghĩa vụ trả cho anh Lê Mh số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng)

2/ Về án phí: Buộc anh Nguyễn Ngọc B phải nộp 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Lê Mh số tiền 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo lai thu số 0003478 ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ