vanban.org

Bản án 14/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Trọng T phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lương Trọng T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Trọng T phạm tội “trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Trọng T phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬ N THỐ T NỐ T
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2021/HSST
Ngày: 22- 3- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Gốc

2. Bà Thái Ánh Trinh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án Nhân dân

quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ

tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2021, tại trụ s ở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t -

thành phố Cần Thơ, tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 10/3/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣơng Trọng T, sinh ngày: 26/4/1982; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, huyện C, thành phố C. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Họ tên cha: Lương Văn T, sinh năm 1963 (sống); Họ tên mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1960 (sống). Tiền sự: Không.

Tiền án: 02 lần;

+ Lần thứ nhất: Vào ngày 27/6/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm;

+ Lần thứ hai: Ngày 19/11/2018, bị TAND quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấ p hà nh nộ p á n phí hình sự ngày 20/12/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/4/2019.

Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/11/2020.

Người bị hại: Giang Văn T – sinh năm 1962. Vắng mặt

Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận N, thành phố C.

Người làm chứng: Trần Thiện N – sinh năm 1988. Vắng mặt

Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận N, thành phố C.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi , tranh luậ n tạ i phiên tòa, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Vào khoảng 8 giờ ngày 05/10/2020, Lương Trọng T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B3-18347 đến cơ sở Tư Tấn chuyên hàn ống bơm nước, bơm đạp, tu hích, máng xối, bán tole, sắt củ, mới các loại do ông Giang Văn T làm chủ cơ sở, thuộc khu vực T, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ để mua co bơm nước. Khi đến cơ sở Tư Tấn, T không thấy ai trông coi cơ sở, T nhìn thấy co nước đang treo trên cửa sắt của cơ sở nên T nảy sinh ý định lấy trộm. Liền lúc này, T đi ra xe mô tô của T đang đậu trước cơ sở Tư Tấn dẫn sang đậu trước cửa hàng vật tư nông nghiệp Hữu Tý cách cơ sở Tư Tấn một căn nhà và quay đầu xe về hướng Ô Môn với mục đích sau khi lấy trộm được tài sản thì nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, T quay trở lại cơ sở Tư Tấn lén lút lấy trộm 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt và mang để lên xe định tẩu thoát thì bị ông Trần Thiện N phát hiện truy hô và trình báo lực lượng Công an phường Thuận Hưng.

Tang vật thu giữ: 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt.

Tại bản Kế t luậ n đ ịnh giá tài sản số 76/BKL-HĐĐGTS ngày 26/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, kết luận: 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt có giá trị 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt tiến hành thu giữ theo quy định và đã ra quyết định trả lại cho ông Giang Văn T 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt, ông T không yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, Lương Trọng T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với chứng cứ đã được thu thập.

Tại Cáo trạng Số 18/CT-VKS ngà y 05/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - Tp. Cần Thơ truy tố bị cáo Lương Trọng T về tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lương Trọng T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vậ t chứ ng:

ông Giang Văn T đã nhận lại 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu

Công nhận đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt, ông T không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an quậ n T hố t Nố t, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t , Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự thủ tục quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tò a không có ngườ i nà o khiế u nại về hành vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

[2] Trong điều tra và tại phiên tòa , bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 05/10/2020, lợi dụng sự sơ hở của cơ sở ông Giang Văn T, bị cáo Lương Trọng T đã lén lút lấy trộm tài sản của ông T là 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30 cm, dài 60 cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt. Khi T vừa mang tài sản lấy trộm đặt lên xe định tẩu thoát thì bị phát hiện.

Tại bản Kế t luậ n đị nh giá tài sản số 76/BKL-HĐĐGTS ngày 26/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, kết luận: 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt có giá trị 450.000 đồng.

Bản thân bị cáo đã từng có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, nên lần này dù giá trị tài sản mà bị cáo lấy trộm chưa đến mức 2.000.000 đồng, nhưng vẫn cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo do lòng tham nên đã nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác, từng nhiều lần bị xử phạt tù nhưng vẫn không sửa đổi. Hành vi trộm cắp tài sản lần này mà bị cáo thực hiện giữa ban ngày, ngay cơ sở kinh doanh của người khác, qua đó cho thấy bị cáo rất liều lĩnh. Thiết nghĩ cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình xét thấy bị cáo phạm tội nhưng tài sản đã được thu hồi ngay để trả lại cho người bị hại nên xem như chưa gây thiệt hại gì đáng kể, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, là cháu của gia đình liệt sĩ có công với cách mạng. Vì vậy, có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vậ t chứ ng:

Ông Giang Văn T đã nhận lại tài sản bị trộm và không có yêu cầu bồi thường gì khác; nghĩ nên công nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Trọng T phạm tội “trộm cắp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lương Trọng T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Công nhận ông Giang Văn T đã nhận lại 01 co lơi bơm nước hình trụ tròn màu đen, đường kính 30cm, dài 60cm, bằng nhựa PP, bên trong có khung sắt, ông T không yêu cầu gì thêm.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ