vanban.org

Bản án 14/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 13/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế M phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt : Trịnh Thế M 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2020. Xử lý vật chứng: Tịch thu 01 USB có lưu giữ 03 đoạn clip ghi lại sự việc để làm tài liệu lưu giữ tại bút lục số 32A trong hồ sơ vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỊNH THẾ MẠNH - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế M phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2021/ HSST.
Ngày: 13/01/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thànhphần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Phan Thị Hà.

Ông Lê Minh Mãi.

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai thụ lý số 230/2020/TLST-HS ngày 30/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 413/2020/QĐXXST-HS ngày 28/12/2020, đối với bị cáo:

Trịnh Thế M Sinh năm: 1986.

Nơi sinh: Hà Nội.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số 12 ngõ 109 phố An Xá, phường P , quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Tiến Đ và bà: Lê Thị P. Vợ : Chưa.

Tiền sự: Chưa; Tiền án: 02 tiền án.

Nhân thân: - Bản án số 343/2006/HSST ngày 30/8/2006, Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xử phạt 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ra trại ngày 17/01/2009. (Đã xóa án).

- Bản án số 187/2017/HSST ngày 24/10/2017, Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại : 07/7/2020.

Bị bắt ngày : 19/8/2020.

Có mặt.

Người bị hại: Anh Vũ Văn B - Sinh năm: 1991 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Số 68/79/9 phố N, phường T, quận L, thành phố H.

Người làm chứng: - Bà Vũ Thị B - Sinh năm 1965 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Số 22B ngách 20/65 P, phường P, quận B, thành phố H.

- Ông Mẫn Hồng C - Sinh năm 1958 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Số 82 đường 19 P, phường P, quận B, thành phố H.

- Bà Nguyễn Thị K - Sinh năm 1957 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Số 12 ngõ 44 P, phường P, quận B, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 19/8/2020, Trịnh Thế M đi xe ôm của anh Vũ Văn B (SN: 1991, trú tại: Số 68/79/9 phố Nguyễn Văn Linh, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) từ cây xăng H về ngõ 44 phố P, phường P, quận B, thành phố H thì M bảo anh B dừng xe lại, xuống xe và mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei I 9 màu đen của anh B để liên lạc với số điện thoại 0988.883.381 cho bạn M tên là Lê Thanh Đông. Anh B bảo M đứng đây nói chuyện điện thoại và bật loa ngoài để M nghe thì M giật điện thoại trên tay anh B đồng thời nói mượn điện thoại nói chuyện và cầm điện thoại của anh B đi luôn vào ngách 42 phố P rồi bỏ chạy, lúc này anh B hô hoán “cướp, cướp” rồi đuổi theo M . Khi M chạy vào ngách 2 ngõ 65 phố P thì vứt điện thoại di động Huawei I 9 xuống đất và tiếp tục bỏ chạy, anh B tiếp tục đuổi theo M đến đoạn ngách 2 ngõ 65 phố P thông với ngõ 84 phố A thì cùng người dân bắt giữ M thu hồi chiếc điện thoại di động Huawei I 9 màu đen rồi đưa về trụ sở Công an phường P .

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động Huawei I 9 màu đen;

- 03 đoạn clip ghi lại sự việc;

Tại bản kết luận định giá tài sản số 124/KLĐG-HĐĐGTS ngày 04/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự - UBND quận Ba Đình kết luận: 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Huawei 19 màu đen đã qua sử dụng, trị giá: 4.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra – Công an quận Ba Đình đã trả lại cho anh Vũ Văn Bôn: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei I 9 màu đen. Anh B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Bản cáo trạng số 235/CT-VKS ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình truy tố bị cáo Trịnh Thế M về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự 2015.

Người làm chứng: - Bà Vũ Thị B khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/8/2020, tôi đang ngồi bán gà tại chợ P như mọi ngày thì nghe thấy tiếng hô “cướp, cướp, cướp”, tôi ngẩng đầu lên thấy 2 thanh niên đuổi nhau chạy từ ngõ 42 P chạy vào ngõ 65 P , thấy vậy tôi cũng hô “cướp” và chạy theo. Tôi chạy đến ngách 2 ngõ 65 P thì tôi thấy có điện thoại màu đen, cảm ứng, nhãn hiệu Huawei rơi ở dưới đường, tôi nhặt lên và bảo “nó bỏ rơi điện thoại đây rồi”. Tôi đoán đó là chiếc điện thoại của anh xe ôm nên tôi cầm và mang ra đầu ngõ thì thấy mọi người bắt được tên cướp kia. Tôi đưa diện thoại cho ông C (tổ dân phố ở đây). Sau đó, tôi quay về bán hàng tiếp.

- Ông Mẫn Hồng C khai: Khoảng 14 giờ 30 phút, tôi đang ngồi tại số nhà 71 phố P bất ngờ có tiếng hô “cướp”. Vì tôi là bảo vệ dân phố nên đã tức thì lao ra và nhìn thấy một thanh niên mặc quần áo Grab chạy vào ngõ 65 P , tôi đuổi theo vào tới ngõ 65 P thì tiếp tục chạy vào ngách 2 hẻm 1 ngõ 65 P , tôi đuổi theo một đoạn vì đối tượng là thanh niên mà chạy đoạn dài nên đến ngách tôi không kịp và đã quay ra. Vừa quay ra tới ngõ 65 P thì thanh niên mặc quần áo Grab bắt được thanh niên cướp điện thoại của thanh niên mặc áo Grab. Tôi quay lại hỗ trợ thì được một người dân nhặt được điện thoại bị cướp rơi tại sau nhà 71 phố P . Vào thời điểm này có một người phụ nữ trung tuổi đến và bảo điện thoại thấy rồi thì tha cho nó nhưng tôi đã C quyết bắt và dẫn giải về trụ sở Công an phường để các đồng chí công an làm rõ.

- Bà Nguyễn Thị K khai: Vào hồi 14 giờ 55 phút ngày 19/8/2020, khi tôi đang rửa ray làm cơm trên bếp tại nhà tôi thì tôi nghe thấy có người nói chuyện điện thoại ở bên ngách thông sang ngõ 42 P ngay cạnh nhà tôi. Tôi ra cửa thì thấy có 01 thanh niên mặc áo Grab xanh đang đứng trước cửa nhà tôi. Tôi ra hỏi cậu thanh niên mặc áo Grab: “Cháu chở khách là người đang đứng trong ngách kia đúng không?” Cậu Grab bảo: “Vâng” nên tôi nói: “Cháu phải để ý nhé”. Vừa nói xong thì tôi nghe thấy tiếng chân người thanh niên cầm điện thoại chạy. Cậu thanh niên mặc áo Grab trên tức khắc đuổi theo, vừa đuổi vừa hô “cướp, cướp” và đuổi theo vào ngách bên cạnh nhà tôi tại ngõ 42 P . Tôi thấy xe máy của cậu mặc áo Grab vẫn để tại ngõ 44 P nên tôi có rút chìa khóa xe của cậu thanh niên Grab. Một lúc sau, tôi thấy anh C bảo vệ dân phố cùng 3,4 người quay lại để lấy xe và nói với tôi rằng vừa xảy ra vụ cướp giật tài sản của cậu lái xe Grab. Tôi mở khóa xe để anh C lấy xe về Công an phường.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Khoảng 15 giờ ngày 19/8/2020, tại khu vực trước cửa số 19 ngõ 44 phố P, phường P , quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Trịnh Thế M có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Huawei I 9 màu đen trị giá 4.200.000 đồng của anh Vũ Văn B thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trịnh Thế M đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh Thế M về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự 2015, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt từ 16 tháng đến 20 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 01 USB có lưu giữ 03 đoạn clip ghi lại sự việc để làm tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- Về bồi thường dân sự: Người bị hại là anh Vũ Văn B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa Trịnh Thế M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi, bị cáo Trịnh Thế M đã khai nhận : Do có ý định muốn chiếm đoạt điện thoại của người xe ôm nên bị cáo yêu cầu người bị hại dừng xe tại trước cửa nhà 19 ngõ 44 P là nơi thông với nhiều ngõ đã tạo cớ mượn điện thoại của người bị hại để gọi điện nhưng người bị hại chỉ bấm máy và bật loa không đưa điện thoại cho bị cáo cầm mà bị hại vẫn cầm điện thoại trên tay. Bị cáo đã giật điện thoại trên tay bị hại và đi nhanh ra chỗ khác vừa đi vừa nói mượn điện thoại sau đó bỏ chạy vào ngách 2 ngõ 65 P thì bị mọi người đuổi theo nên bị cáo đã vứt điện thoại lại và bị bắt giữ. hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, tang vật thu được trong vụ án, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 19/8/2020, tại khu vực trước cửa số 19 ngõ 44 phố P, phường P , quận B, thành phố H, Trịnh Thế M có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei I 9 màu đen trị giá 4.200.000 đồng của anh Vũ Văn B thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Thế M đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo: Là thanh niên có sức khỏe song do tham lam, thích hưởng lời bất chính, bị cáo đã chủ động tạo ra sơ hở cho người bị hại rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát, hành vi tỏ ra táo bạo phạm tội giữa ban ngày, phạm tội lần này với có mục đích, có chủ định. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Nhân thân bị cáo đã có tiền án, trong đó bản án số 187/2017/HSST ngày 24/10/2017, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội chưa được xóa án tích, là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên Tòa áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 171 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Vũ Văn B đã nhận lại tài sản, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa không xem xét.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 1 USB có lưu giữ 3 đoạn clip ghi lại sự việc xảy ra nên tịch thu để làm tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế M phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào : - Căn cứ khoản 1 Điều 171, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt : Trịnh Thế M 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2020.

- Căn cứ điều 106, 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử lý vật chứng: Tịch thu 01 USB có lưu giữ 03 đoạn clip ghi lại sự việc để làm tài liệu lưu giữ tại bút lục số 32A trong hồ sơ vụ án.

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án.

Cỡ chữ