- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-ST Ngày 22 -03- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Chúc
Bà Võ Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Minh Quế - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn H (Tên gọi khác: M) - sinh năm: 1979 tại Bà Rịa- Vũng Tàu; Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông Phạm Văn R, sinh năm 1949 và bà Đồng Thị L, sinh năm: 1949;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số: 25/2014/HSST ngày 17-4-2014 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-12-2014 và chấp hành xong tiền án phí ngày 5-6-2014.
- Ngày 26-01-2021, Công an huyện Đất Đỏ ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000đồng và đã nộp tiền xong ngày 26-02-2021.
Bị bắt ngày 5- 12- 2020, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Trọng P - sinh năm: 1993 Trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Vắng mặt).
+ Bà Trương Thị T- sinh năm 1994; trú tại: Tổ 2 khu phố 5, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm Thanh H - sinh năm: 1979; Trú tại: Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Anh C - sinh năm 1971; Trú tại: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 5 năm 2019, Phạm Văn H đang đi bộ trên khu vực bãi biển thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Warm, màu đỏ biển số 72FC-0909 của anh Nguyễn Trọng P để trên bờ biển, không có người trông coi. H liền chạy đến đẩy chiếc xe trên về nơi cư trú của mình để cất giấu. Ngày hôm sau, H tháo biển số 72FC-0909 vứt bỏ và lấy biển số 72K6-6874 vừa nhặt được ven đường để gắn vào xe trên. Ngày 24 – 5 - 2019, H đem xe bán cho ông Nguyễn Anh C với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) để lấy tiền tiêu xài. Ngày 26 -5- 2020, ông P phát hiện ông C đang quản lý, sử dụng xe mô tô của mình nên trình báo cơ quan Công an.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 30/KLĐGTSTTHS ngày 13-6-2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: “01 xe mô tô, hiệu Warm, màu đỏ, số khung 014DP008434, số máy 39FMB008434, biển số 72FC-0909 (hiện gắn biển số: 72K6-6874) có giá trị còn lại là 2.700.000 đồng”.
Qua điều tra, ngoài vụ trộm cắp tài sản trên, H còn khai nhận đã thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 5 năm 2020, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 3, màu đen không rõ biển số đến cửa hàng hải sản Thanh Ghẹ thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu do bà Trương Thị T làm chủ. Sau đó, H để xe ở trước cửa và đi bộ vào phía trong sân thì phát hiện 01 rổ có 10kg ốc hương, loại 3 còn sống nên H đã bê rổ ốc hương ra xe và chở về nhà cùng bạn bè ăn hết.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 63/KLĐGTSTTHS ngày 25/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: “10 kg ốc hương, loại 3, còn sống có giá trị là 3.100.000 đồng”.
- Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 12 năm 2020, H đi đến bãi đất trống gần bờ biển thuộc ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu TIANMA, kiểu xe Dream, màu nho (SM: MG 02505711, SK: 4MY5A004711) của ông Phạm Thanh H không có người trông coi nên H chạy đến lấy xe này và sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 04-12-2020, H bị Công an xã P, huyện X tạm giữ xe và bàn giao cho Công an huyện Đất Đỏ điều tra theo thẩm quyền.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 01/KLĐGTSTTHS ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: “01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu TIANMA, kiểu xe Dream, màu nho, số máy MG 02505711, số khung: 4MY5A004711 có giá trị là 800.000 đồng”.
Ngày 26- 01- 2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đất Đỏ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 05/QĐ đối với Phạm Văn H với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 167/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.
Ngoài ra, H còn khai nhận: Vào khoảng tháng 6 năm 2019, tại khu vực bờ kè thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, H phát hiện có 01 xe máy (nhãn hiệu Dream, không có dàn áo, không biển số) không có người trông coi đang dựng sát bên bờ kè, H đã lấy xe và bán cho tiệm ve chai với giá 400.000 đồng. Hiện Công an huyện Đất Đỏ đã ra thông báo truy tìm bị hại và chiếc xe máy trên nhưng chưa có kết quả.
* Tang vật, tài sản Công an thu giữ gồm: 01 xe mô tô, hiệu Warm, màu đỏ, biển số 72K6-6874; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị Thủy T; 01 xe mô tô nhãn hiệu TIANMA, kiểu xe Dream, màu nho, số máy MG 02505711, số khung: 4MY5A004711; 01 biển số 72T2-6256; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trương Thị L và 01 giấy bán xe ngày 20/12/2009; 01 đĩa DVD KACHI Japan 4.7GB có lưu trữ 01 đoạn ghi hình có thời lượng 35 giây, dung lượng 820KB ghi lại hình ảnh H trộm 10kg ốc hương.
Đối với biển số 72FC – 0909 của xe mô tô, hiệu Warm, màu đỏ: Ngày 08-12- 2020, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm theo lời khai của bị cáo Phạm Văn H nhưng không có kết quả.
* Xử lý tài sản, tang vật của vụ án:
Ngày 19 – 01- 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại cho ông Nguyễn Trọng P 01 xe mô tô, hiệu Warm, màu đỏ; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị Thủy T; Trả cho anh Phạm Thanh H 01 xe mô tô nhãn hiệu TIANMA, kiểu xe Dream, màu nho, số máy MG 02505711, số khung: 4MY5A004711; 01 biển số 72T2-6256; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trương Thị L và 01 giấy bán xe ngày 20- 12- 2009.
Tại Cáo trạng số 13/CT- VKS ngày 25 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội như sau:
* Về tội danh: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như cáo trạng nêu trên.
* Về điều luật áp dụng và hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt: Phạm Văn H từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 72K6- 6874.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, bị hại Trương Thị T đề nghị rút yêu cầu, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là có tội, đồng ý với quyết định truy tố của cáo trạng Viện kiểm sát và hối hận về hành vi của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định vụ án như sau: Từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020, bị cáo Phạm Văn H đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 5 năm 2019, tại khu vực bờ biển thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Phạm Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm của ông Nguyễn Trọng P chiếc xe Warm, màu đỏ, biển số 72FC-0909 với giá trị là 2.700.000đồng (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng).
- Lần thứ hai: Khoảng tháng 5 năm 2020, tại cửa hàng hải sản Thanh Ghẹ thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Phạm Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm của bà Trương Thị T 10kg ốc hương, loại 3 còn sống với trị giá 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm ngàn đồng).
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm hại trực tiếp đến tài sản người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014, H đã bị Tòa án xét xử về hành vi “chống người thi hành công vụ”, nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục vi phạm pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của người khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 2 lần trở lên nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
- Qúa trình điều tra, ông Nguyễn Trọng P, ông Phạm Thanh H và ông Nguyễn Anh C không ai có yêu cầu bồi thường nên không xem xét;
- Qúa trình điều tra, bà Trương Thị T có yêu cầu bị cáo Phạm Văn H bồi thường thiệt hại với số tiền là 3.100.000đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà T tự nguyện rút yêu cầu, không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử ý vật chứng: Xét biển số 72K6 - 6874 là tài sản không rõ nguồn gốc, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với ông Nguyễn Anh C mua xe mô tô do Phạm Văn H trộm cắp mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định được C không biết tài sản do trộm cắp mà có nên chưa đủ cơ sở để truy tố trách nhiệm hình sự đối với C.
Đối với hành vi Phạm Văn H lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu TIANMA của ông Phạm Thanh H vào khoảng tháng 12 năm 2020 có giá trị nhỏ hơn 2.000.000 đồng đồng thời không liên tục về thời gian so với những lần phạm tội trước đó nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi Phạm Văn H khai lấy trộm 01 xe máy (nhãn hiệu Dream, không có dàn áo, không biển số) nhưng chưa truy tìm được bị hại và tài sản bị chiếm đoạt. Cơ quan công an sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các ẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt: Phạm Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 5 tháng 12 năm 2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) biển số 72K6 - 6874
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB ngày 26-02-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu).
3. Về án phí: Phạm Văn H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22-03-2021), bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền làm đơn kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm, đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ. Riêng,Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Đất Đỏ; - Công an tỉnh BR-VT; - Sở tư pháp tỉnh BR-VT; - Công an huyện Đất Đỏ; - Chi cục THADS huyện Đất Đỏ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thanh Tuyền |