vanban.org

Bản án 14/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh Ph (Ph Lậu) phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh Ph: 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Thanh Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh Ph (Ph Lậu) phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HSST
Ngày: 29-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Vĩnh Hiền.

Bà Trần Thị Thúy Sâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 29/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST – HS ngày 16/7/2021 đối với bị cáo:

Đoàn Thanh Ph (tên gọi khác: Ph Lậu), sinh ngày 28/5/1985 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố 6, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không nghề; con ông Đoàn Thanh V, sinh năm 1955, trú tại khu phố 9, phường 5, thành phố ĐH, tỉnh Quảng Trị; con bà Nguyễn Thị Th2 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị P (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2007, tiền sự: Không; tiền án: Có 04 tiền án:

- Ngày 31/3/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này bị cáo chưa thi hành về phần dân sự.

- Ngày 21/12/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này bị cáo chưa thi hành về phần dân sự.

- Ngày 29/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 27/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về nhân thân:

- Ngày 06/02/2002, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) xử phạt: 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 28/12/2007, bị Công an thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 01/9/2009, bị Công an Phường 1, thành phố Đông Hà xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 03/9/2009, bị Công an Phường 1, thành phố Đông Hà về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 28/4/2021 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thi Th, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn An Bình, xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Mai Chiếm Đ, trú tại: Khu phố 3, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 ngày 22/4/2021, Đoàn Thanh Ph đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thi Th (mẹ vợ đã ly hôn của Ph) ở thôn An Bình, xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị với mục đích xin tiền và hỏi số điện thoại của chị Nguyễn Thị P (vợ đã ly hôn của Ph). Khi đến nhà bà T thấy cửa gian nhà chính bị khóa, cửa nhà bếp mở nên Ph đi vào trong. Đoàn Thanh Ph thấy bà Th và cháu Đoàn Nguyễn Nhật N (con trai của Ph) đang nằm ngủ, trên bàn gổ đặt gần cửa chính gian nhà có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu đồng đang sạc pin. Đoàn Thanh Ph nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đi đến rút dây sạc lấy điện thoại bỏ vào túi quần. Sau đó, Ph đi vào phòng ngủ của cháu N, thấy trên ghế nhựa đặt gần đầu gường có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen đang sạc pin. Đoàn Thanh Ph lấy điện thoại này bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài theo lối đi vào. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, Đoàn Thanh Ph đem điện thoại di động hiệu Iphone 6S đến cầm cố cho anh Mai Chiếm Đ, trú tại Khu phố 3, Phường 1, thành Đông Hà, tỉnh Quảng Trị với giá 800.000 đồng. Số tiền có được Ph tiêu xài cá nhân hết. Đến 21 giờ cùng ngày, Đoàn Thanh Ph bị Công an huyện Cam Lộ bắt và thu giữ trên người Ph điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 26/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cam Lộ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6S có giá trị là 2.100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone7 Plus có giá trị là 3.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 5.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 15/CT – VKSCL ngày 28/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh Ph về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh Ph (Ph Lậu) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh Ph từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thi Th đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có ý kiến gì thêm nên không xem xét. Anh Mai Chiếm Đ tự nguyện giao nộp điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ và không yêu cầu Đoàn Thanh Ph bồi thường lại số tiền 800.000 đồng đã cầm cố nên không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến có ý kiến gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Đoàn Thanh Ph xin lỗi bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác. Từ đó Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị Th trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị Th 02 điện thoại di động hiệu Iphone trị giá: 5.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản của người khác. Do đó có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có 04 tiền án đều về tội trộm cắp tài sản chưa xóa án tích, trong đó Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2017/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đã xác định bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt:

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, mức hình phạt từ 02 – 07 năm tù; bị cáo nhân thân xấu, nhiều lần bị các Tòa án xét xử đều về tội phạm trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích mà vẫn tiếp tục phạm tội, do đó xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, cải tạo bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6S và 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone7 Plus đã được thu hồi, trả lại cho bà Nguyễn Thi Th. Bà Th không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Mai Chiếm Đ nhận cầm cố điện thoại của bị cáo nhưng không biết tài sản đó do phạm tội mà có nên không xem xét về trách nhiệm hình sự. Anh Đ tự nguyện giao nộp điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ và không yêu cầu bị cáo bồi thường lại số tiền 800.000 đồng đã cầm cố nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh Ph (Ph Lậu) phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh Ph: 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Thanh Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ