vanban.org

Bản án 14/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội Cướp giật tài sản.

Xử phạt Nguyễn Viết T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( bị cáo đã bj tạm giữ tạm giam từ ngày 28/11/2020 đến 08/02/2021). Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội Cướp giật tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2021/HS -ST
Ngày: 31- 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hùng

Bà Nguyễn Thị Thu Phương

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Tùng- Thẩm tra viên TAND huyện Xuân Trường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Mai Anh Chiến - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14 /2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết T – Sinh ngày 05/12/2002. Nơi cư trú: xóm 12 Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 11/12.Tôn giáo: Thiên chúa . Con ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1971, con bà Phan Thị H, sinh năm 1973. Tiền án: Không có. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/11/2020 đến 08/02/2021 được bảo lĩnh cho tai ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. 2. Người bào chữa cho bị cáo: bà Trần Thị T2- trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định. 3. Bị hại: anh Phạm Văn H1, sinh năm 1989 Nơi cư trú: xóm 16, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. 4. Người có quyền lợi liên quan:

- ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1971

- bà Phan Thị H, sinh năm 1973 Nơi cư trú: xóm 12 Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

(bà Trần Thị T2, ông T1, bà H có mặt, anh H1vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do muốn có chiếc điện thoại công nghệ cao nhưng không có tiền nên Nguyễn Viết T nảy sinh ý định đặt mua hàng qua mạng rồi chiếm đoạt điện thoại của người giao hàng. Ngày 21/11/2020 T dùng điện thoại Sam Sung của mình đăng nhập vào tài khoản trên ứng dụng Shopee là Phan Tung đặt mua 01 điện thoaị Iphone 11 Pro Max 64 GB màu xanh trị giá 24.950.000đồng và cung cấp địa chỉ giao hàng là xóm La Văn Cầu, xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, số điện thoại giao dịch là 0943864918. T chọ công ty giao hàng là Giao hàng tiết kiệm, hình thức thanh toán khi nhận hàng. Đến 12 giờ 20 phút ngày 26/11/2020 anh Phạm Văn H1 là nhân viên giao hàng quê ở xóm 16, xã H, huyện Hgọi điện thoại cho T nhận hàng. T hẹn anh H1 tại xóm 8 La Văn Cầu, xã Xuân Phú để nhận hàng. T đi xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 33R3-3666 ra đường gần cánh đồng xóm 8, xã Xuân Phú để xe trước cổng nhà bà Vũ Thị R rồi đi bộ khoảng 50 mét cạnh cầu bên mương nước đón anh H1. Khoảng 10 phút sau anh H1 đi xe máy đến nơi gặp T nói T giao tiền xong sẽ đưa cho T hộp hàng đựng điện thoại. T đòi xem hàng, anh H1 nói Shopee không cho xem hàng rồi bỏ hộp hàng vào giỏ hàng sau xe máy và nói sẽ trả lại hàng cho shopee. Khi anh H1 ngồi lên xe máy T thò tay vào giỏ hàng lấy hộp đựng điện thoại chạy ra phía cánh đồng. Anh H1 đuổi theo nhưng không kịp, T bỏ rơi đôi dép xốp màu ghi xám và chạy vào nghĩa trang xóm 7, xã Xuân Phú. T bóc hộp hàng thấy chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max 64 GB màu xanh đựng trong chiếc hộp màu đen cùng 01 dây tai nghe, 01 cục sạc, dây cáp sạc. T vất hộp tại nghĩa trang rồi ra lấy xe máy đem điện thoại về nhà, tắt điện thoại Sam sung, tháo sim 0943864918 cất ở nhà vệ sinh tầng 2. T khởi động điện thoại Iphone, đặt mật khẩu 999999, tài khoản Icloud: [email protected], mật khẩu: trungnguyen2002, sim có số seri: 8984048000049707554 để sử dụng.

Sau khi mất điện thoại anh H1 trình báo công an huyện Xuân Trường. Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường thu tại nghĩa trang xóm 7, xã Xuân Phú 01 hộp bìa cát tông màu nâu kích thước (10 x 20 x 8) cm một mặt có vận đơn 946994553, một mặt có chữ “ không được xem hàng trước” đã bị xé rách; 01 hộp điện thoại màu đen kích thước (9,5 x 18 x 5) cm bên hông ghi chữ IPHONE, đáy hộp ghi số IMEI 353893109739939, 01 hóa đơn bán hàng, 01 giấy bảo hành số HD031595, 01 mảnh giấy nilon trong có mảnh giấy ghi “ Vui lòng bỏ sim vào...”; 01 mảnh giấy nilon trên có dán mảnh giấy ghi “ để kích hoạt...”; 01 đôi dép xốp màu ghi xám. Ngày 28/11/2020 Nguyễn Viết T đến cơ quan điều tra khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max 64 GB; sim có số seri: 8984048000049707554; chiếc điện thoại Sam Sung màu xanh. Khám nhà T thu giữ xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 33R3-3666, 01 đăng ký xe mô tô số 084944, biển số đăng ký 33R3-3666; 01 dây sạc, 01 dây tai nghe màu trắng của điện thoại Iphone 11; 01 quần đùi vải màu đen.

Cơ quan điều tra cho định giá chiếc Iphone 11 Pro Max 64 GB cùng phụ kiện đi kèm gồm bộ sạc và tai nghe là 24.950.000 đ và đã trả lại cho anh H1. T cũng đề nghị gia đình bòi thường cho anh H1 thiệt hại cho chiếc Iphone là 10.000.000 đồng. Anh H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T

Cáo trạng số 10/CT-VKSXT ngày 19/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Nguyễn Viết T về tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 BLHS.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội Cướp giật tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; khoản 1 Điều 101; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 BLTTHS xử phạt Nguyễn Viết T từ 21 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 42 tháng đến 48 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã X theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trách nhiệm dân sự không đặt ra. Tịch thu cho tiêu hủy đôi dép xốp màu ghi xám, 01 quần đùi vải màu đen, sim điện thoại có số seri: 8984048000049707554; sim Vinaphon 0943864918; 01 hộp bìa cát tông màu nâu kích thước (10 x 20 x 8) cm một mặt có vận đơn 946994553, một mặt có chữ “ không được xem hàng trước” đã bị xé rách; 01 hộp điện thoại màu đen kích thước (9,5 x 18 x 5) cm bên hông ghi chữ IPHONE, đáy hộp ghi số IMEI 353893109739939, 01 hóa đơn bán hàng, 01 giấy bảo hành số HD031595, 01 mảnh giấy nilon trong có mảnh giấy ghi “ Vui lòng bỏ sim vào...”; 01 mảnh giấy nilon trên có dán mảnh giấy ghi “ để kích hoạt...”; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước chiếc điện thoại Sam Sung màu xanh của T. Trả lại ông T1 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 33R3-3666; 01 đăng ký xe mô tô số 084944, biển số đăng ký 33R3-3666.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không ai có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm, hứa không bao giờ vi phạm nữa. Bà Trần Thị Thủy- trợ giúp viên pháp lý Nhà nước bào chữa cho bị cáo đề nghị: Nhận thức của bị cáo còn hạn chế, bị cáo khai báo thành khẩn thực sự ăn năn hối cải, tự thú, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo cải tạo giáo dục tại địa phương và gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 15 giờ ngày 26/11/2020, Biên bản khám xét khẩn cấp nơi ở của T hồi 13 giờ ngày 28/11/2020 của Công an huyện Xuân Trường. Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HDĐG ngày 01/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường. Lời khai của bị hại Phạm Văn H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị H, Nguyễn Viết T1. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: khoảng 12 giờ 40 ngày 26/11/2020 Nguyễn Viết T đã có hành vi Cướp giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max 64 GB của anh Phạm Văn H1 là nhân viên giao hàng khi anh H1 không cho T bóc hộp hàng theo yêu cầu của shopee. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cướp giật tài sản được quy định tại khoản 1 điều 171 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh H1, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nhận thức còn hạn chế chỉ vì muốn có chiếc điện thoại công nghệ cao mà bồng bột nảy sinh ý định phạm tội. Vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo giao cho gia đình và chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo cũng là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, chính sách của Nhà nước với người chưa thành niên.

. Tịch thu cho tiêu hủy đôi dép xốp màu ghi xám, 01 quần đùi vải màu đen, sim điện thoại Viettelcó số seri: 8984048000049707554; sim Vinaphon 0943864918; 01 hộp bìa cát tông màu nâu kích thước (10 x 20 x 8) cm một mặt có vận đơn 946994553, một mặt có chữ “ không được xem hàng trước” đã bị xé rách; 01 hộp điện thoại màu đen kích thước (9,5 x 18 x 5) cm bên hông ghi chữ IPHONE, đáy hộp ghi số IMEI 353893109739939, 01 hóa đơn bán hàng, 01 giấy bảo hành số HD031595, 01 mảnh giấy nilon trong có mảnh giấy ghi “ Vui lòng bỏ sim vào...”; 01 mảnh giấy nilon trên có dán mảnh giấy ghi “ để kích hoạt...” vì không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước chiếc điện thoại Sam Sung màu xanh của T do T dùng để phạm tội. Trả lại ông T1 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 33R3-3666; 01 đăng ký xe mô tô số 084944, biển số đăng ký 33R3-3666 vì khi T lấy xe đi ông T1 không biết. Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 11/3/2021.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, ông Thủy, bà Hảo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; ; khoản 1, khoản 2, khoản5 Điều 65; khoản 1 Điều 101; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 BLTTHS Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội Cướp giật tài sản.

- Xử phạt Nguyễn Viết T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( bị cáo đã bj tạm giữ tạm giam từ ngày 28/11/2020 đến 08/02/2021).

- Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy đôi dép xốp màu ghi xám, 01 quần đùi vải màu đen, sim điện thoại Viettelcó số seri: 8984048000049707554; sim Vinaphon 0943864918; 01 hộp bìa cát tông màu nâu kích thước (10 x 20 x 8) cm một mặt có vận đơn 946994553, một mặt có chữ “ không được xem hàng trước” đã bị xé rách; 01 hộp điện thoại màu đen kích thước (9,5 x 18 x 5) cm bên hông ghi chữ IPHONE, đáy hộp ghi số IMEI 353893109739939, 01 hóa đơn bán hàng, 01 giấy bảo hành số HD031595, 01 mảnh giấy nilon trong có mảnh giấy ghi “ Vui lòng bỏ sim vào...”; 01 mảnh giấy nilon trên có dán mảnh giấy ghi “ để kích hoạt...” vì không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước chiếc điện thoại Sam Sung màu xanh của T do T dùng để phạm tội. Trả lại ông T1 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 33R3-3666; 01 đăng ký xe mô tô số 084944, biển số đăng ký 33R3-3666. Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 11/3/2021.

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, ông T1, bà H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ