- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn Th trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-ST Ngày 05 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Diễn
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Đinh Thị Sơn
+ Bà Nguyễn Lê Minh Nhu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo:
- Hồ Văn T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1989; tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Tổ 8, thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Co; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân N, sinh năm 1963 và bà Hồ Thị X (chết); Có vợ là Hồ Thị H, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự - Ngày 11/01/2021 bị Công an xã Trà Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; bị bắt, tạm giam ngày 09/7/2021, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Bùi Phú Vũ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, là người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T. (có mặt)
* Bị hại:
1. Vợ cH ông Hồ Văn H, sinh năm 1964 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1966 . Địa chỉ: Tổ 8, thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
2. Vợ cH ông Hồ Thanh B, sinh năm 1954 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ 2, thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
3. Anh Hồ Văn Th, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn 3, xã Trà Th, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hồ Xuân N, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
* Người phiên dịch: Ông Hồ Văn Nghĩa – Cán bộ hưu trí xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng là người phiên dịch. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 06/02/2021 Hồ Văn T rời khỏi nhà, đi bộ lên rẫy keo ở tổ 8, thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng với mục đích vác củi để chặt trước đó. Trên đường vác củi đi về lại nhà thì T nhìn thấy 01 con bò giống cái, lông màu vàng, khoảng 03 năm tuổi thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Hồ Văn H và vợ chồng ông Hồ Thanh B đang bị cột vào cây keo trong rẫy, cách nhà T khoảng 70m. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi vác củi xong thì T nảy sinh ý định sẽ giết chết con bò trên để lấy thịt đem về nhà ăn nên T vào nhà lấy hai con dao rồi T đi bộ đến nơi cột bò, khi đến nơi T quan sát không thấy có ai trông coi nên T lén lút cầm 01 con dao mũi nhọn bên tay phải đâm hai cái vào cổ con bò làm con bò chết và nằm ngã trên cỏ. Sau đó, T lần lượt vác hai cái đùi bò đem đến cất giấu tại hai vị trí khác nhau trong bụi cây ở rẫy keo với mục đích chờ đến tối sẽ đem về nhà, vì sợ người khác phát hiện. Khi cất giấu xong thì T đem hai con dao về lại nhà rồi rửa dao và đi tắm.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 08/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng, kết luận: 01 con bò giống cái lông màu vàng, khoảng 03 năm tuổi, có giá trị 11.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/3/2021 Hồ Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 76P1-03845 của cha ruột Hồ Xuân N với mục đích đi làm thuê cho người khác tại thôn Tr, xã Trà S, huyện Trà Bồng. Tuy nhiên, vì không có làm nên T điều khiển xe mô tô trên đến nhà của Hồ Văn T ở thôn 3, xã Trà Th, huyện Trà Bồng để chơi. Tại đây T có gặp và uống rượu với nhiều người, trong đó có Hồ Văn T và Hồ Văn Th. Tại nhà T, ban đầu mọi người cùng uống rượu tại nhà trên, sau đó mọi người tiếp tục xuống uống rượu tại nhà bếp. Khi xuống nhà bếp uống rượu thì T có để một cái áo khoát của T ở trên tấm chiếu để ở nhà trên. Nhậu được một lúc thì Th đi lên tấm chiếu ở nhà trên để ngủ, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì T đến chỗ tấm chiếu để lấy áo khoát đi về thì lúc này T nhìn thấy 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam Sung của Th đang để trên tấm chiếu, cạnh chỗ Th nằm ngủ. Sau khi lấy áo khoát, T lén lút dùng tay phải lấy điện thoại rồi bỏ vào túi quần, sau đó đi ra bên ngoài lấy điện thoại từ túi quần bỏ vào túi áo khoát rồi điều khiển xe mô tô trên về lại nhà. Một lúc sau khi T đang ở nhà thì Th đến nhà T hỏi về điện thoại bị mất thì T thừa nhận có lấy trộm 01 điện thoại.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, số loại Galaxy J2 Prime, màu vàng, số Imel: 351556091680096, số Imel 2: 351557091680094, đã qua sử dụng, có giá trị 675.000 đồng.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ: 06 đến 12 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 17cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 5,8cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao B. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính rộng nhất trên cán dao rộng 3,8cm. Trên cán dao có 01 khoen kim loại tiếp giáp với lưỡi dao cán dao dài 36,5cm.
- 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 26,8cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 03cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao sắc nhọn. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, phần rộng nhất của cán dao rộng 3.5cm. Có 02 khoen kim loại trên cán. Một phần gỗ trên đuôi cán dao bị gãy và lõm vào bên trong, cán dao dài 26,5cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại: Vợ chồng ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị H; vợ chồng ông Hồ Thanh B, bà Hồ Thị N đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và anh Hồ Văn Th đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết.
Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Bồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/02/2021, bị cáo lén lút cầm 01 con dao mũi nhọn bên tay phải đâm hai cái vào cổ con bò làm con bò chết và nằm ngã trên cỏ. Sau đó, bị cáo lần lượt vác hai cái đùi bò đem đến cất giấu tại hai vị trí khác nhau trong bụi cây ở rẫy keo với mục đích chờ đến tối sẽ đem về nhà. Con bò giống cái lông màu vàng, khoảng 03 năm tuổi, được định giá 11.000.000 đồng. Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/3/2021 bị cáo lén lút lấy 01 điện thoại di động của anh Hồ Văn Thuận. Điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, số loại Galaxy J2 Prime, màu vàng đã qua sử dụng, được định giá 675.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận, bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Hồ Văn T là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây tâm lí hoang mang lo sợ cho người dân.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 11/01/2021, Hồ Văn T bị Công an xã Trà S, huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là “Phạm tội hai lần”.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở huyện miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hồ Văn T đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nay bị cáo lại liên tiếp thực hiện hai lần hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện gia đình hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy: - 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 17cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 5,8cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao B. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính rộng nhất trên cán dao rộng 3,8cm. Trên cán dao có 01 khoen kim loại tiếp giáp với lưỡi dao cán dao dài 36,5cm; - 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 26,8cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 03cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao sắc nhọn. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, phần rộng nhất của cán dao rộng 3.5cm. Có 02 khoen kim loại trên cán. Một phần gỗ trên đuôi cán dao bị gãy và lõm vào bên trong, cán dao dài 26,5cm.
Đối với 01 xe mô tô, biển số kiểm soát 76P1-03845, nhãn hiệu Honda và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, số loại Galaxy J2 Prime, màu vàng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hồ Xuân N và anh Hồ Văn Th là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
Án phí: Bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo và là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2. Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn T 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam ngày 09 tháng 7 năm 2021.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy:
- 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 17cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 5,8cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao B. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính rộng nhất trên cán dao rộng 3,8cm. Trên cán dao có 01 khoen kim loại tiếp giáp với lưỡi dao cán dao dài 36,5cm;
- 01 cái dao dài 53,5cm. Lưỡi dao làm B kim loại dài 26,8cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao rộng 03cm, có sống dao B, lưỡi dao sắc bén, đầu mũi dao sắc nhọn. Cán dao làm B gỗ, mặt cắt ngang hình tròn, phần rộng nhất của cán dao rộng 3.5cm. Có 02 khoen kim loại trên cán. Một phần gỗ trên đuôi cán dao bị gãy và lõm vào bên trong, cán dao dài 26,5cm.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 6 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Bồng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hồ Văn T được miễn theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, quyền được yêu cầu công bố hay không công bố bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Ngãi; - VKSND tỉnh Q. Ngãi; - Sở tư pháp; - VKSND huyện Trà Bồng; - CQĐT CA huyện Trà Bồng; - Chi cục THADS huyện Trà Bồng; - CQ THAHS CA huyện Trà Bồng; - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Bồng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Diễn |