vanban.org

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L được ly hôn anh Trịnh Duy T.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016 cho chị L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh T. Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị L và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L được ly hôn anh Trịnh Duy T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST
Ngày 03-3-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Ngát

Bà Phan Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 363/2020/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 12 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXX-ST ngày 05 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Trịnh Duy T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 08/12/2020 và bản tự khai ngày 31/12/2020, chị L trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Trịnh Duy T thời gian năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K. Nói chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm. Tuy nhiên trong quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2019 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng thường xảy ra bất đồng quan điểm trong việc chăm sóc con cái, làm ăn kinh tế và trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không thành. Dù sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 con là Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016, hiện đang do cả hai vợ chồng chị nuôi dưỡng. Chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L đến khi đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì hiện nay chị làm nghề giáo viên, có thu nhập kinh tế và có nơi ăn ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T trình bày tại bản tự khai ngày 24/12/2020: Thống nhất với chị L về thời gian kết hôn, thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2019 do phong cách sống không phù hợp, vợ chồng thường xảy ra bất đồng quan điểm trong việc chăm sóc con cái, làm ăn kinh tế và đối nhân xử thế với gia đình nội ngoại, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù anh và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không thành. Dù sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; anh đồng ý ly hôn chị L.

Về con chung: Có 01 con là Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016, hiện đang do cả hai vợ chồng anh nuôi dưỡng. Anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L đến khi đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì hiện nay anh làm nghề giảng viên, có thu nhập kinh tế và có nơi ăn ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 phát sinh mâu thuẫn đến nay ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Chị L bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 02/2021 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình cảm không còn, mâu thuẫn rất trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay chị L và anh T đều xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thùy L được ly hôn anh Trịnh Duy T.

2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016, hiện đang do cả 02 anh chị nuôi dưỡng, nay cả 02 anh chị đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L đến khi đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của đôi bên thấy rằng: Cháu L còn nhỏ, mới hơn 04 tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Chị L có đủ điều kiện về thời gian và kinh tế đảm bảo để nuôi dưỡng cháu L. Do đó, cần chấp nhận nguyện vọng của chị L. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Giao cháu Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016 cho chị L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản, công nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L tự nguyện kết hôn với anh T năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K. Đánh giá chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm. Song trong thời gian sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2019 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều bất đồng quan điểm trong việc chăm sóc con cái, làm ăn kinh tế và đối nhân xử thế với gia đình nội ngoại, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi mắng nhau. Chị L bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 02 năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay cả hai anh chị đều xin ly hôn, được chấp nhận, nên xử cho chị L được ly hôn anh T là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016 hiện đang do cả hai anh chị nuôi dưỡng. Nay cả 02 anh chị đều xin được nuôi dưỡng cháu L đến khi đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của đôi bên và qua xác minh tại địa phương, gia đình 2 bên thấy rằng: Cháu L còn nhỏ, mới hơn 04 tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ, chị L có đủ điều kiện đảm bảo về mọi mặt để nuôi dưỡng cháu L. Do đó, yêu cầu của chị L là có cơ sở được chấp nhận. Cần giao cháu L cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên không xem xét giải quyết. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh T.

Về tài sản, công nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L được ly hôn anh Trịnh Duy T.

2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Nguyên L, sinh ngày 23/11/2016 cho chị L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh T.

Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA.0009011 ngày 17 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị L đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ