vanban.org

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi ki n của chị Trương Thị Bé C.

Về hôn nhân: xử cho chị Trương Thị Bé C được ly hôn với anh Lê Văn K. Về con chung: giao cháu Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010 cho chị Trương Thị Bé C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q thành niên. Anh Lê Văn K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Bé C yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn K"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi ki n của chị Trương Thị Bé C.
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Q
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 23-9-2021.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Ông Phạm Kiên Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ng c Nguy t - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Cù Lao Dung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2021/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2021 “Về vi c ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trương Thị Bé C, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã A, huy n C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Lê Văn K, sinh năm: 1987 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã A, huy n C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi ki n ngày 13 tháng 01 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị Bé C trình bày:

- Về hôn nhân: chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K tự nguy n tổ chức lễ cưới vào năm 2009, nhưng đến ngày 08/3/2010 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Sau khi kết hôn chị C và anh K chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị C và anh K sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 cho đến nay. Chị C yêu cầu được ly hôn với anh K.

- Về con chung: trong thời gian chung sống chị C và anh K có 01 người con chung tên Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010. Hi n nay cháu Q đang sống chung với chị C. Chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q cho đến khi cháu Q thành niên, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống chị C và anh K không có tài sản chung và nợ chung, nên chị C không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Trương Thị Bé C vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn K trình bày:

- Về hôn nhân: anh Lê Văn K và chị Trương Thị Bé C tự nguy n tổ chức lễ cưới vào năm 2009, nhưng đến ngày 08/3/2010 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Sau khi kết hôn anh K và chị C chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh K và chị C sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 cho đến nay. Anh K yêu cầu được đoàn tụ, không thống nhất ly hôn với chị C, vì anh còn thương chị C và thương con.

- Về con chung: trong thời gian chung sống anh K và chị C có 01 người con chung tên Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010, hi n nay cháu Q đang sống chung với chị C. Anh K thống nhất cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q cho đến khi cháu Q thành niên, anh K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh K và chị C không có tài sản chung và nợ chung, nên anh K không yêu cầu giải quyết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Vi c xác định quan h pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; vi c tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đ chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về vi c giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn Trương Thị Bé C. Về hôn nhân: xử cho chị C được ly hôn với anh K; về con chung: giao cháu Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q thành niên, do chị C không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, nên anh K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: chị C và anh K không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi ki n ngày 13 tháng 01 năm 2021 của chị Trương Thị Bé C thì chị C khởi ki n yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn K. Hội đồng xét xử xác định quan h tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huy n Cù Lao Dung thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Anh Lê Văn K là bị đơn trong vụ án đ được Tòa án tri u tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp l , có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh K.

Về quan h hôn nhân: chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K tự nguy n kết hôn khi đ đủ tuổi kết hôn và đủ điều ki n kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị C và anh K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huy n C theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị C và anh K là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì chị C và anh K chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên chị C và anh K sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị C và anh K không cùng nhau khắc phục, tìm bi n pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đ sống ly thân từ tháng 10 năm 2018. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị C và anh K không gặp nhau để bàn bạc về vi c hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm tr ng. Chị C yêu cầu được ly hôn; anh K yêu cầu được đoàn tụ, không thống nhất ly hôn, vì anh còn thương chị C và thương con.

Xét thấy: anh K cho rằng anh còn thương chị C và thương con, nên không thống nhất ly hôn, nhưng từ khi sống ly thân cho đến nay, anh K không chủ động gặp chị C để bàn bạc về vi c đoàn tụ, mà mâu thuẫn ngày càng trầm tr ng hơn, hi n nay hôn nhân của chị C và anh K đ lâm vào tình trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị C và anh K không còn khả năng để đoàn tụ. Vì vậy, anh K yêu cầu được đoàn tụ là không có căn cứ để chấp nhận; chị C yêu cầu được ly hôn với anh K là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị C được ly hôn với anh K.

Về con chung: trong thời gian chung sống chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K có 01 người con chung tên Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010. Từ khi chị C và anh K sống ly thân cho đến nay chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Chị C và anh K cùng thống nhất cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q cho đến khi cháu Q thành niên; nguy n v ng của cháu Q cũng muốn được tiếp tục sống chung với chị C; chị C không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K đ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, vi c thỏa thuận này cũng phù hợp với nguy n v ng của cháu Q và đảm bảo quyền lợi về m i mặt của cháu Q, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Q cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q thành niên. Do chị C không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, nên anh K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh K, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K không có tài sản chung. Chị C và anh K không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K không có nợ chung. Chị C và anh K không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với đề nghị của vị đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Cù Lao Dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của chị Trương Thị Bé C. Như đ nhận định ở phần trên, xét thấy đề nghị của vị đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Cù Lao Dung là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Trương Thị Bé C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0006977 ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n Cù Lao Dung, như vậy chị C đ nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lê Văn K không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi ki n của chị Trương Thị Bé C.

1. Về hôn nhân: xử cho chị Trương Thị Bé C được ly hôn với anh Lê Văn K.

2. Về con chung: giao cháu Lê Kiến Q, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2010 cho chị Trương Thị Bé C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q thành niên. Anh Lê Văn K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh K, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Trương Thị Bé C và anh Lê Văn K không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Trương Thị Bé C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0006977 ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n Cù Lao Dung, như vậy chị Cầm đ nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lê Văn K không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Trương Thị Bé C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn anh Lê Văn K không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ