- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/DSPT Ngày 13-4-2021 "V/v tranh chấpyêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thông;
Các Thẩm phán:
Ông K'Tiêng;
Bà Bùi Thị Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2021/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/QĐ-PT ngày 12/3/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐ-PT ngày 25/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H1 – Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
Bà Bùi Thị C; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị H1 – Có mặt.
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị H1, bà Bùi Thị C trình bày:
Ngày 20/5/2014 Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông thụ lý vụ án số 44/2014/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất" giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ với bị đơn bà Bùi Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1. Ngày 23/01/2017 Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa ban hành bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST. Do có kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông giải quyết theo bản án dân sự phúc thẩm số 21/2017/DS-PT ngày 30/5/2017.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 30/2020/DS-GĐT ngày 27/02/2020 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự phúc thẩm số 21/2017/DS-PT ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông và bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 23/01/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa để xét xử sơ thẩm lại.
Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thụ lý lại vụ án. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 22/2020/QĐST-DS ngày 15/6/2020.
Việc ông Nguyễn Văn Đ rút đơn khởi kiện làm bà Phạm Thị H1 và bà Bùi Thị C phải theo đuổi vụ kiện trong thời gian gần 10 năm, ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Bà H1, bà C yêu cầu ông Đ phải bồi thường các khoản bao gồm:
Bồi thường về sức khỏe tinh thần trong 10 năm từ ngày 24/10/2011 đến nay với số tiền 50.000.000 đồng.
Bồi thường số tiền chi phí hợp đồng thuê luật sư là 250.000.000 đồng.
Bồi thường số tiền chi phí thuê báo Phụ nữ, báo Người cao tuổi là 10.000.000 đồng.
Bồi thường số tiền chi phí cho việc đi lại soạn thảo văn bản theo đuổi vụ liện từ năm 2011 đến năm 2020 là 50.000.000 đồng: Chi phí 05 lần đi lại từ Đăk Nông – Thanh Hóa; 03 lần đi lại từ Đăk Nông – Hà Nội; 20 lần đi lại từ Đăk Nông – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Bùi Thị C và bà Bùi Thị H1 yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ bồi thường tổng cộng số tiền 360.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Quá trình ông Đ khởi kiện vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Bùi Thị C và bà Phạm Thị H1 từ năm 2014 đến nay, không chỉ riêng phía bị đơn bà Bùi Thị C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1 mà gia đình ông Đ, bà H2 cũng mất nhiều thời gian theo đuổi vụ kiện, gây thiệt hại nhiều.
Sau khi bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh hủy và chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Gia
- 2 -
Nghĩa giải quyết lại, nhận thấy thời gian giải quyết vụ án quá lâu, gia đình ông Đ, bà H2 không muốn tranh chấp nữa. Ông Đ tự nguyện rút đơn khởi kiện, bà H1 và bà C cũng đồng ý với việc rút đơn này. Sau đó, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Lý do ông Đ rút đơn là ông cảm thấy quá mệt mỏi với quá trình theo đuổi vụ án chứ không phải ông nhận thua hay khởi kiện không có căn cứ. Đến nay, chưa có kết luận nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Đ với bà C và bà H1.
Do đó, việc bà Phạm Thị H1, bà Bùi Thị C khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là không có căn cứ, ông Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Bà H2 đồng ý với trình bày của ông Nguyễn Văn Đ. Bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, bà H1. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS-ST ngày 28/12/2020, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H1 và bà Bùi Thị C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền 360.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/12/2020, nguyên đơn bà Phạm Thị H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, buộc ông Nguyễn Văn Đ phải bồi thường số tiền 360.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người kháng cáo giữ nguyên đơn khởi kiện và nội dung đơn kháng cáo và trình bày những nội dung như trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà phát biểu ý kiến với các nội dung:
Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị H1 làm trong hạn luật định.
Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khỏan 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị H1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- 3 -
Xét yêu cầu kháng cáo của Phạm Thị H1. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị H1 nộp trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ, bà H2.
. Về nội dung:
. Bà Bùi Thị C và bà Phạm Thị H1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đg phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, danh dự, nhân phẩm, thuê luật sư, nhà báo và chi phí đi lại, tiền công lao động trong 10 năm đi kiện với tổng số tiền là 360.000.000 đồng.
. Quá trình giải quyết vụ án, bà C và bà H1 xác định nguyên nhân bị thiệt hại số tiền trên là do ông Nguyễn Văn Đ làm đơn khởi kiện bà Bùi Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị H1, đã được Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông thụ lý vụ án số 44/2014/TLST-DS, ngày 20/5/2014 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất". Vụ án đã qua nhiều lần và nhiều cấp xét xử. Ngày 27/02/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 30/2020/DS-GĐT hủy bản án dân sự phúc thẩm số 21/2017/DS-PT, ngày 30/5/2017 và bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST, ngày 23/01/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa để xét xử sơ thẩm lại. Sau đó, ông Đ đã rút đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 22/2020/QĐST-DS ngày 15/6/2020. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Điều 4 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
"Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác".
Tại Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định quyền khởi kiện vụ án:
"Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".
Như vậy, quyền khởi kiện vụ án đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự như đã viện dẫn ở trên, do đó, ông Đ có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quá trình giải quyết, ông Đ là người khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện được quy định tại điểm c khoản 1 Điểu 217 của Bộ luật Tố
- 4 -
tụng dân sự và Tòa án ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu bồi thường tiền thuê luật sư 250.000.000 đồng, bà H1 và bà C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Mặt khác, theo quy định tại khoản 13 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì khi tham gia tố tụng đương sự có quyền: "Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình". Tại khoản 3 Điều 168 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: "Chi phí cho Luật sự do người có yêu cầu chịu…". Do đó, yêu cầu của bà C và bà H1 là không có căn cứ.
Đối với số tiền thuê báo phụ nữ, báo người cao tuổi là 10.000.000 đồng, chi phí soạn thảo văn bản, đánh máy, photocopy, công chứng, các chi phí nhận gửi tài liệu, chứng cứ đến cơ quan có thẩm quyền trong việc theo đuổi vụ kiện từ năm 2011 đến năm 2020 là 50.000.000 đồng. Xét thấy, quá trình giải quyết bà C và bà H1 cung cấp một số phiếu báo phát của Bưu điện tỉnh Đăk Nông, giấy nộp tiền, giấy biên nhận đơn khiếu nại, thông báo của Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh … Như vậy, bà H1 và bà C đang thực hiện quyền của đương sự quy định tại khoản 23 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: "Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Việc đề nghị của bà H1 và bà C đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bằng Quyết định giám đốc thẩm số 30/2020/DS-GĐT, ngày 27/02/2020. Mặt khác, pháp luật cũng không quy định người nào khởi kiện, sau đó rút đơn khởi kiện phải bồi thường các khoản tiền trên, nên không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường sức khỏe, tinh thần, danh dự, nhân phẩm, tiền công lao động đi lại trong 10 năm là 50.000.000 đồng. Xét thấy, trong quá trình ông Đ khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết, ông Đ không có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà C và bà H1. Do đó, không có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật dân sự. Do đó, kháng cáo của bà H1 là không có căn cứ.
Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H1. Chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2020/DS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị H1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 589, Điều 590, Điều 592 của Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- 5 -
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H1 và bà Bùi Thị C1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).
2. Về án phí: Bà Phạm Thị H1 và bà Bùi Thị C không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phạm Thị H1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - TAND Tp. Gia Nghĩa; - Chi cục THADS Tp. G; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, TDS. - 6 - | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Phạm Thị Thông |