vanban.org

Bản án 14/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Thanh T. Buộc bà Hoàng Thị H trả cho ông Đỗ Thanh T số tiền 100.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Thanh T. Buộc bà Hoàng Thị H trả cho ông Đỗ Thanh T số tiền 100.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/DS-ST
Ngày: 26-10-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Á.

- Bà Trần Thị Thu Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 215/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXX-ST ngày 15 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Kim Y, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (có mặt).

Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2021.

2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim Y trình bày: Ngày 29/10/2018, ông Đỗ Thanh T có cho bà Hoàng Thị H mượn 200.000.000 đồng, lúc mượn tiền thì hai bên có lập hợp đồng mượn tiền, đến tháng 4/2019 bà H trả nợ được 100.00.000 đồng, còn nợ 100.000.000 đồng. Ông T đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà H chưa trả. Bà Y xác định hiện nay bà Hoàng Thị H còn nợ ông T số tiền 100.000.000 đồng và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H phải trả cho ông T số tiền 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

- Theo biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Hoàng Thị H trình bày: Ngày 29/10/2018 bà có mượn của ông Đỗ Thanh T số tiền 200.000.000 đồng. Đến tháng 4/2019 bà đã trả nợ cho ông T được 100.000.000 đồng, hiện nay còn nợ 100.000.000 đồng. Bà H xác định hiện còn nợ ông T 100.000.000 đồng. Nay ông T yêu cầu trả nợ bà đồng ý, nhưng xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo qui định. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc bà H trả cho ông T số tiền 100.000.000 đồng; bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, thẩm quyền: Nguyên đơn ông Đỗ Thanh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hoàng Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và bị đơn bà H hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Vì vậy, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết là đúng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung:

Ngày 29/10/2018, ông Đỗ Thanh T có cho bà Hoàng Thị H mượn số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), lúc mượn tiền hai bên có lập hợp đồng mượn tiền và bà H có ký tên vào hợp đồng mượn tiền. Trong hợp đồng mượn tiền không thể hiện thời gian trả nợ, không thể hiện lãi suất. Theo quy định tại khoản 1 điều 469 Bộ luật dân sự thì đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Đến tháng 4/2019 bà H đã trả nợ được 100.000.000 đồng. Bà Hoàng Thị H thừa nhận có mượn của ông T 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), sau đó đã trả được 100.000.000 đồng, còn nợ 100.000.000 đồng; hợp đồng mượn tiền ông T cung cấp cho Tòa án là do bà viết và ký tên. Do đó, việc bà H mượn tiền của ông T là có thật.

Bà Hoàng Thị H yêu cầu được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng bà Trần Thị Kim Y không đồng ý, nên không có cơ sở để xem xét yêu cầu của bà H.

Như vậy, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Thanh T, buộc bà Hoàng Thị H trả cho ông T số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về lãi suất: Đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Thanh T không yêu cầu bà Hoàng Thị H trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì yêu cầu của ông Đỗ Thanh T được chấp nhận nên bà Hoàng Thị H phải chịu số tiền án phí theo quy định pháp luật là: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Thanh T. Buộc bà Hoàng Thị H trả cho ông Đỗ Thanh T số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Hoàng Thị H phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Đỗ Thanh T 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) ông đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001299 ngày ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

3/ Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ